vanban.org

Bản án 03/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kiều Y về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều Y được ly hôn với ông Trương Thanh T. 2. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Y xin ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Th"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kiều Y về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH HƯNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày 13-02-2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Thị Yến Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Lạc

Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 189/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều Y, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Ấp L, xã V, huyện T, tỉnh Long An. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Trương Thanh T, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Long An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều Y trình bày:

Bà Nguyễn Thị Kiều Y và ông Trương Thanh T xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Long An ngày 14/7/2017. Sau ngày cưới, bà Y sống và làm dâu bên gia đình chồng tại ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Long An.

Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh 01 con chung tên Trương Như Ý (Nữ), sinh ngày 06/5/2017. Sau đó, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm dẫn đến cuộc sống không còn hạnh phúc. Đến tháng 5 năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, bà Y và con chung là cháu Như Ý về nhà cha mẹ ruột ở ấp L, xã V, huyện T sinh sống đến nay.

Hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2024 đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm đến nhau nên bà Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T, yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Trương Thanh T vắng mặt trong suốt quá trình tòa án thụ lý giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến.

Kết quả xác minh của Tòa án:

Về quá trình tiến đến hôn nhân, con chung, tình trạng vợ chồng hiện tại như bà Y trình bày. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, chủ yếu do ông T không lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc dẫn đến nợ nần, bà Y đã nhiều lần khuyên can nhưng ông T vẫn không thay đổi. Về điều kiện nuôi con, bà Y có nghề nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định đủ khả năng nuôi con, ngoài ra cha mẹ bà Y cũng hỗ trợ bà Y nuôi con. Đối với ông Trương Thanh T thì không có nghề nghiệp ổn định.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với các đương sự, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật, vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án: Bà Y và ông T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện V, tỉnh Long An vào ngày 14/7/2017 nên xác định là hôn nhân hợp pháp, đề nghị giải quyết theo Luật Hôn nhân và gia đình.

Kể từ khi thụ lý giải quyết đơn ly hôn của bà Y đến nay, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần, tạo điều kiện cho bà Y và ông T hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên bà Y vẫn kiên quyết ly hôn, ông T không đến Tòa án, không có thiện chí hàn gắn tình cảm. Ngoài ra à Y và ông T đã sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên căn cứ Điều 19, 51, 56 xét thấy hôn nhân giữa bà Y và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ vợ chồng không còn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kiều Y.

Về con chung: Bà Y có yêu cầu được nuôi con chung. Xét thấy con chung Trương Như Ý, sinh ngày 06/5/2017 đang sống với bà Y và có nguyện vọng được sống với mẹ nên để đảm bảo cho con chung có cuộc sống ổn định, đề nghị giao con chung cho bà Y tiếp tục nuôi dưỡng. Bà Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Y trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về nợ chung: Bà Y trình bày không có nên đề nghị không xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các điều 28, 35, 39, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kiều Y về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố Tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Long Annên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án, xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Y và ông T xác lập quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện V, tỉnh Long Anvào ngày 14/7/2017 nên là hôn nhân hợp pháp, bà Y1 cầu giải quyết ly hôn sẽ được xem xét giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Bà Y2 giữa bà và ông T kết hôn trên cơ sở tự nguyện nhưng cuộc sống vợ chồng chỉ hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, đến tháng 5 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và bà Y đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng có 01 con chung đang sống cùng bà Y. Vợ chồng không còn tình cảm và đã sống ly thân nên khả năng hàn gắn không còn. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng sau khi thụ lý vụ án cũng đã tiến hành hòa giải để tạo điều kiện cho các đương sự hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả, bà Y cương quyết ly hôn, bị đơn ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm, không đến Tòa án trình bày ý kiến, bỏ mặc kết quả giải quyết.

Nhận thấy mâu thuẫn giữa bà Y và ông T đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, căn cứ quy định tại các điều 19, 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử có cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Y.

Về con chung: Bà Y và ông T có 01 con chung hiện đang sống cùng bà Y. Bà Y yêu cầu được nuôi con chung và nguyện vọng cháu bé muốn được sống với mẹ, ông T không thể hiện ý kiến, không có tranh chấp về con chung.

Xét thấy việc tiếp tục giao con chung cho bà Y nuôi là phù hợp, đảm bảo theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do bà Y không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm thời Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y trình bày vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung, tại thời điểm giải quyết ly hôn cũng không có ai tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Y phải chịu án phí Hôn Nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kiều Y về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

1.1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều Y được ly hôn với ông Trương Thanh T.

1.2. Về con chung:

Giao con chung tên Trương Như Ý (nữ), sinh ngày 06/5/2017 cho bà Nguyễn Thị Kiều Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc (con chung đang sống cùng bà Y).

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Y không yêu cầu nên tạm thời Hội đồng xét xử không xem xét.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kiều Y phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Chuyển 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà NguyễnKiều Y3 đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng theo biên lai số 0002088 ngày 14/10/2024 sang tiền án phí.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ