- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đ-Đ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Quàng Thị Đ và anh Nguyễn Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày 16 tháng 01 năm 2025 V/v:“Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Ch.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Th và bà Nguyễn Thị H.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải L –Thư ký của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ph.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Ph tham gia phiên toà: Ông Triệu Xuân Tr - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ph xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30/12/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Quàng Thị Đ, sinh năm 1984 (vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: bản Phứa Cón, phường Chiềng An, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1987(vắng mặt không có lý do);
Địa chỉ: xóm Măng 1, xã L Cốc, huyện T, tỉnh Ph.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Quàng Thị Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2021, chị Quàng Thị Đ với anh Nguyễn Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã L Cốc, huyện T, tỉnh Ph. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, sau đó cuộc sống chung bắt đầu mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Chị Đ đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La từ đầu năm 2024, vợ chồng sống ly thân nhau từ đó. Nay xét tình cảm không còn, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên chị Đ làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ph giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị Đ, anh Đ không có con chung nên chị không đề nghị Toà án giải quyết vấn đề con chung.
Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
[2]. Về phía Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ:
Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Văn Đ đến để làm việc, tuy nhiên anh Đ đều vắng mặt không có lý do. Theo đó, ngày 02/12/2024, Toà án đã báo gọi anh Đ tới UBND xã L Cốc, huyện T, tỉnh Ph để tiến hành lấy lời khai. Trong Biên bản lấy lời khai, anh Nguyễn Văn Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ xác nhận về thời gian vợ chồng kết hôn, chung sống, ly thân và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như chị Đ trình bày trong đơn khởi kiện và bản tự khai là đúng. Nay chị Đ xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên anh không đề nghị Toà án giải quyết vấn đề con chung.
Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
[3]. Quan điểm của đại diện UBND xã L Cốc: Tại Biên bản làm việc ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện T với đại diện UBND xã L Cốc, địa phương cung cấp như sau:
Về tình trạng hôn nhân: Chị Quàng Thị Đ và anh Nguyễn Văn Đ là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L Cốc vào năm 2021. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống cùng với gia đình anh Đ tại xóm Măng 1, xã L Cốc. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc cho đến khoảng năm 2024 thì anh chị thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, mặc dù đã được gia đình hai bên và chính quyền địa phương khuyên bảo nhưng anh chị vẫn không chủ động và không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc. Từ khi xảy ra mâu thuẫn đến nay, chị Đ đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, vợ chồng sống ly thân nhau. Nay chị Đ có đơn khởi kiện xin được ly hôn anh Đ, UBND xã L Cốc đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về con chung: chị Đ và anh Đ không có con chung nên địa phương không đề nghị Toà án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị Đ, anh Đ không đề nghị Toà án giải quyết nên địa phương không có ý kiến gì.
[5]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Ph phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Việc nhận đơn, thụ lý, xác minh, thu thập chứng cứ được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn nhiều lần vắng mặt không có lý do nên đây là vụ án không tiến hành hoà giải được. Thẩm phán đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho Nguyên đơn, Bị đơn theo đúng khoản 1 Điều 175, khoản 1,2 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ph xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Chị Đ, anh Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong cuộc sống chung vợ chồng hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đ, anh Đ là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55, Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình, ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đ và anh Đ.
Về con chung: Chị Đ, anh Đ không có con chung nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Đối với tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị Đ, anh Đ không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Khi nào chị Đ, anh Đ có yêu cầu thì anh, chị có quyền làm đơn đề nghị giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định.
Về án phí dân sự: Chị Đ, anh Đ phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiên phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị Quàng Thị Đ có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ph cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1987; trú tại: xóm Măng 1, xã L Cốc, huyện T, tỉnh Ph. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ph.
Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn anh Đ không đến Tòa án để làm việc. Vì vậy, Tòa án xác định vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Đ vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Đ, anh Đ theo đúng khoản 1 Điều 175 và khoản 1,2 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện T xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đ và anh Đ trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Năm 2021, hai bên đăng ký kết hôn tại UBND xã L Cốc, huyện T, tỉnh Ph, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, chị Đ cho rằng từ đầu năm 2024 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng không có sự hòa hợp với nhau. Chị và anh Đ đã chính thức ly thân từ khi xảy ra mâu thuẫn, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Đ nên chị xin ly hôn để giải phóng cho nhau. Phía anh Đ cũng xác nhận vợ chồng ly thân đã lâu nên anh đồng ý ly hôn với chị Đ.
Để thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị Đ và anh Đ, Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã L Cốc thấy rằng: Lời trình bày của chị Đ về tình trạng hôn nhân giữa chị và anh Đ là hoàn toàn đúng. Đại diện địa phương cũng xác nhận chị Đ và anh Đ chung sống không hòa thuận hạnh phúc, hiện vợ chồng anh, chị đã ly thân, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Đ, anh Đ đã đến mức trầm trọng, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận việc yêu cầu xin ly hôn của chị Đ và anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị Đ, anh Đ không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị Đ, anh Đ không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này chị Đ, anh Đ có yêu cầu thì anh; chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.
. Về án phí: Căn cứ quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; hướng dẫn tại tiết 11, mục IV của văn bản số: 02/TANDTC – PC ngày 02/8/2021 và quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì chị Đ, anh Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm tương ứng như trường hợp các bên thuận tình ly hôn.
. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 55, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 238 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 và Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Quàng Thị Đ và anh Nguyễn Văn Đ.
2. Về con chung: Không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí: Chị Quàng Thị Đ và anh Nguyễn Văn Đ mỗi người phải chịu 75.000đ (bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Đ đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Ph 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án theo Biên lai thu số 0004554 ngày 22/10/2024. Trả lại cho chị Quàng Thị Đ 225.000đ (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Đ, anh Đ có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Văn Ch |