- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Thu Tr - Hoàng Văn K"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Tr.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA HANG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 01 - 2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Hữu San
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Chu Đức Hoài
Ông Nguyễn Quốc Luân
- Thư ký phiên tòa: Bà Duy Minh Hà – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Trần Quyết Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa vụ án thụ lý số 79/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16/10/2024 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST – HNGĐ, ngày 31/12/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thu Tr, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Xóm 4, xã Đ, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang.
2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn Kh, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện N, tỉnh Tuyên Quang.
(Nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Tr có Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt; bị đơn anh Hoàng Văn Kh vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai và Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Tr trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn Kh tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện N, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 11/01/2009. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống tại xóm 4, xã Đ, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc. Đến khoảng năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng vợ chồng vẫn không thể hóa giải mâu thuẫn nên anh Khanh đã bỏ đi nơi khác làm ăn và sống ly thân với chị từ năm 2015 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không hề có sự hỏi han, quan tâm, chăm sóc gì đến nhau khiến cho tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh Hoàng Văn Kh đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ, nuôi dạy con cái trưởng thành được nữa. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn Kh, để giải phóng cho cả hai đi tìm cuộc sống hạnh phúc của riêng mình.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Hoàng Văn Kh có 02 con chung là cháu Hoàng Mạnh D, sinh ngày 17/4/2009 và cháu Hoàng Ngọc M, sinh ngày 29/6/2012. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân thì các con vẫn sống cùng chị nên khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Hoàng Văn Kh phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị chưa tạo lập được tài sản, đất đai gì chung; không có vay nợ chung do đó chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn anh Hoàng Văn Kh không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và không có ý kiến gì đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thu Tr.
Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương và ông Hoàng Đình L là bố đẻ của bị đơn anh Hoàng Văn Kh, nội dung thể hiện:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu Tr và anh Hoàng Văn Kh kết hôn với nhau từ năm 2009 trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi cưới vợ chồng chị Tr, anh Kh về chung sống tại xóm 4, xã Đ, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhưng đến khoảng năm 2015 thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã, mắng chửi nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên can nhưng hai vợ chồng vẫn không thể hóa giải mâu thuẫn nên anh Kh đã bỏ đi làm ăn ở nơi khác và sống ly thân với chị Phạm Thị Thu Tr từ năm 2015 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai vợ chồng không còn có sự hỏi han, quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Chính quyền địa phương và người thân thích của anh Hoàng Văn Kh xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Phạm Thị Thu Tr và anh Hoàng Văn Kh đã đến mức độ trầm trọng, không thể hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị Thu Tr đối với anh Hoàng Văn Kh theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị Phạm Thị Thu Tr và anh Hoàng Văn Kh có 02 con chung là cháu Hoàng Mạnh D, sinh ngày 17/4/2009 và cháu Hoàng Ngọc M, sinh ngày 29/6/2012. Kể từ khi vợ chồng chị Tr anh Kh sống ly thân thì các con chung vẫn sống cùng chị Tr tại xóm 4, xã Đ, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang. Các cháu Hoàng Mạnh D và Hoàng Ngọc M vẫn được chị Phạm Thị Thu Tr chăm sóc và cho học hành đầy đủ.
Về tài sản, đất đai và vay nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị Phạm Thị Thu Tr và anh Hoàng Văn Kh chưa tạo lập được tài sản, đất đai chung; không có vay nợ chung.
Về hộ khẩu thường trú: Sau khi cưới vợ chồng chị Phạm Thị Thu Tr và anh Hoàng Văn Kh về chung sống tại xóm 4, xã Đ, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang nhưng anh Kh vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã K, huyện N, tỉnh Tuyên Quang cùng gia đình bố mẹ đẻ do ông Hoàng Đình L làm chủ hộ. Sau đó, do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên anh Kh đã bỏ vào miền Nam làm ăn. Mặc dù thường xuyên liên lạc với gia đình bằng điện thoại nhưng anh Kh chỉ nói mình đang đi làm thuê ở tỉnh Bình Dương. Khi đi làm ăn xa, anh Kh cũng không làm thủ tục khai báo tạm trú, tạm vắng nên gia đình và chính quyền địa phương không nắm được hiện tại anh Hoàng Văn Kh đang làm gì, ở địa chỉ cụ thể như thế nào. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án chính quyền địa phương đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án sau đó chuyển lại cho người thân trong gia đình anh Kh để thông báo cho anh Kh biết việc chị Tr khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Kh và Tòa án triệu tập anh Kh đến làm việc, nhưng anh Kh không có mặt theo yêu cầu của Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 28, 48 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành xác minh, tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Tr thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Hoàng Văn Kh chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Tr:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Thu Tr được ly hôn với anh Hoàng Văn Kh.
+ Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Hoàng Mạnh D, sinh ngày 17/4/2009 và cháu Hoàng Ngọc M, sinh ngày 29/6/2012 cho chị Phạm Thị Thu Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hoàng Văn Kh không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.
+ Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Kết quả xác minh tại địa phương và lời trình bày của nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Tr thể hiện vợ chồng chị Trang, anh Khanh không có tài sản, đất đai vay nợ chung; chị Trang cũng không yêu cầu giải quyết, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên do gia đình chị Phạm Thị Thu Tr thuộc diện hộ cận nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn. Bị đơn anh Hoàng Văn Kh không phải nộp tiền án phí.
Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự:
Chị Phạm Thị Thu Tr khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn với anh Hoàng Văn Kh, do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hoàng Văn Kh có hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã K, huyện N, tỉnh Tuyên Quang. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Na Hang thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tại địa phương cho thấy bị đơn anh Hoàng Văn Kh có hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã K, huyện N, tỉnh Tuyên Quang. Như vậy nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Tr đã cung cấp chính xác địa chỉ của bị đơn anh Hoàng Văn Kh. Anh Hoàng Văn Kh đi làm ăn xa nhưng không thông báo tạm trú, tạm vắng với chính quyền địa phương. Mặc dù thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng không thông báo địa chỉ mới nên gia đình và chính quyền địa phương không rõ anh Hoàng Văn Kh hiện đang làm gì, ở địa chỉ cụ thể nào. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các tài liệu tố tụng (Thông báo về việc thụ lý vụ án; các Giấy triệu tập; Thông báo về việc mở phiên họp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải) theo quy định của pháp luật, mặc dù anh Hoàng Văn Kh đã biết được việc chị Phạm Thị Thu Tr khởi kiện xin ly hôn với mình, nhưng anh Kh không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng. Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ anh Hoàng Văn Kh đến tham gia phiên tòa (niêm yết công khai) 02 lần nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng. Như vậy đây được xem là trường hợp bị đơn cố tình che dấu địa chỉ, cố tình vắng mặt nhằm trốn tránh nghĩa vụ của mình. Quá trình xét xử vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Tr có Đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, do vậy Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn và xét xử vụ án vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 179, khoản 2 Điều 227 và các Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật và thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Tr thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Hoàng Văn Kh chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu Tr và anh Hoàng Văn Kh tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương từ năm 2009, đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 11/01/2009. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau ngày cưới hai vợ chồng về chung sống tại xóm 4, xã Đ, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc, sau đó dần phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, không hợp về tính cách nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng vợ chồng vẫn không thể hóa giải mâu thuẫn mà ngày càng trầm trọng hơn dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân với nhau từ năm 2015 cho đến nay không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau khiến cho tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Chị Tr xác định tình cảm vợ chồng với anh Hoàng Văn Kh đã hết nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Hoàng Văn Kh. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Phạm Thị Thu Tr và anh Hoàng Văn Kh đã đến mức độ trầm trọng, không còn tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Phạm Thị Thu Tr được ly hôn với anh Hoàng Văn Kh là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị Phạm Thị Thu Tr và anh Hoàng Văn Kh có 02 con chung là cháu Hoàng Mạnh D, sinh ngày 17/4/2009 và cháu Hoàng Ngọc M, sinh ngày 29/6/2012. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân thì các cháu Hoàng Mạnh D và Hoàng Ngọc M vẫn sống cùng chị Phạm Thị Thu Tr. Quá trình giải quyết vụ án, chị Tr đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Hoàng Văn Kh phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Trong biên bản lấy lời khai, các cháu Hoàng Mạnh D, Hoàng Ngọc M đều thể hiện nguyện vọng được sống cùng với mẹ là chị Phạm Thị Thu Tr. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên và theo nguyện vọng của các con, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cả hai con chung là cháu Hoàng Mạnh D và Hoàng Ngọc M cho chị Phạm Thị Thu Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hoàng Văn Kh không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
* Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Qua kết quả xác minh tại địa phương và lời khai của nguyên đơn thể hiện vợ chồng chị Phạm Thị Thu Tr và anh Hoàng Văn Kh không có tài sản, đất đai, vay nợ chung. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Tr cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Tr phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được miễn do gia đình thuộc diện hộ cận nghèo. Bị đơn anh Hoàng Văn Kh không phải nộp án phí. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Tr.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Thu Tr được ly hôn với anh Hoàng Văn Kh (Giấy chứng nhận kết hôn số 54, ngày 11/01/2009 tại UBND xã K, huyện N, tỉnh Tuyên Quang).
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Mạnh D, sinh ngày 17/4/2009 và cháu Hoàng Ngọc M, sinh ngày 29/6/2012 cho chị Phạm Thị Thu Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hoàng Văn Kh không phải thực hiện nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.
3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Tr. Bị đơn anh Hoàng Văn Kh không phải nộp tiền án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Phạm Thị Thu Tr và bị đơn anh Hoàng Văn Kh được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND huyện Na Hang;
- Chi cục THADS huyện Na Hang;
- UBND xã K;
- UBND xã Đ, tp Tuyên Quang;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
Lương Hữu San
- Lưu TA.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lương Hữu San Lương Quang Toán – Nguyễn Đức Nhâm THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thị Huệ - Hà Thị Vinh
Vũ Văn Ổn
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Yên Sơn; - Chi cục THADS huyện Yên Sơn; - UBND phường Tân Quang (nơi ĐKKH); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thủy |