- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Vương Thị K xin ly hôn anh Nguyễn Xuân H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Vương Thị K
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH YÊN BÁI Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13-01-2025 V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trƣơng Xuân Vũ
Ông Hoàng Văn Khiếu
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Cẩm Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Yên Bái. Xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 281/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 105/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vương Thị K. Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Lào Cai.
(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân H. Địa chỉ: Thôn K, xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái.
(Vắng mặt)
- Người làm chứng: Bà Lê Thị T Địa chỉ: Thôn K, xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và Bản tự khai ngày 02-12-2024, nguyên đơn là chị Vương Thị K trình bày:
Chị và anh Nguyễn Xuân H đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã M, huyện L ngày 13-12-2011. Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh Nguyễn Xuân H không quan tâm, chăm lo cho gia đình. Mâu thuẫn đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả nên hai người đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ tại thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Lào Cai sinh sống. Đến nay chị xác định không còn tình cảm gì với anh Nguyễn Xuân H nữa. Vì vậy chị Vương Thị K yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Nguyễn Xuân H.
Về con chung, chị Vương Thị K xác định giữa hai người có 01 con chung là cháu Nguyễn Phương L - Sinh ngày 12-7-2013. Hiện nay cháu đang sống, học tập cùng anh Nguyễn Xuân H và gia đình bà Lê Thị T (Là bà nội) tại thôn K, xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái. Chị Vương Thị K đề nghị giao cháu Nguyễn Phương L cho anh Nguyễn Xuân H nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vương Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 09-12-2024 người làm chứng là bà Lê Thị T trình bày: Anh Nguyễn Xuân H và chị Vương Thị K kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L. Sau khi kết hôn, hai người chung sống hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và mỗi người làm ở một nơi. Hai người đã sống ly thân từ năm 2019, không còn quan tâm đến nhau.
Việc chị Vương Thị K đề nghị ly hôn, anh Nguyễn Văn Hiệp đã biết, do bà thông báo. Nhưng do đang đi làm xa nên anh không về giải quyết được. Ý kiến của anh Nguyễn Xuân H là đồng ý ly hôn.
Về con chung, anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Phương L, sinh năm 2016. Hiện tại cháu đang ở cùng bố và ông bà nội và học lớp 3 tại trường Tiểu học xã M, huyện L. Ý kiến của anh Nguyễn Xuân H là được nuôi con chung, về cấp dưỡng nuôi con thì tùy chị Vương Thị K.
Bà Lê Thị T khẳng định đã giao các tài liệu, giấy tờ của Tòa án cho anh Nguyễn Xuân H đúng thời hạn.
Tại Biên bản xác minh ngày 09 tháng 12 năm 2024, ông Lã Kim Vươn - Trưởng thôn K, xã M, huyện L cung cấp nội dung:
Chị Vương Thị K và anh Nguyễn Xuân H đăng ký kết hôn năm 2011 theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, hai người chung sống tại tại địa phương một thời gian sau đó cùng đi làm xa nhà và phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Do không hòa giải được mâu thuẫn nên hai người đã sống ly thân nhiều năm, chị Vương Thị K đã về nhà bố mẹ đẻ ở Lào Cai sinh sống. Anh Nguyễn Xuân H hiện tại không ở nhà nhưng vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình. Việc chị Vương Thị K xin ly hôn, anh Nguyễn Xuân H có biết nhưng không về giải quyết được.
Hai người có 01 con chung, cháu đã sinh sống cùng anh Nguyễn Xuân H và gia đình bà Lê Thị T từ nhỏ, hiện nay cháu đang học lớp 3 tại trường Tiểu học xã M, huyện L. Chị Vương Thị K chỉ thỉnh thoảng mới về thăm con.
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 06-11-2024: Cháu Nguyễn Phương L đề đạt nguyện vọng được ở với bố nếu bố mẹ ly hôn.
Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Yên Bái đã nhiều lần tống đạt văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Xuân H. Nhưng anh Nguyễn Xuân H không có mặt theo triệu tập nên không có lời khai.
Ngày 16-12-2024, Toà án nhân dân huyện L tỉnh Yên Bái mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải. Do anh Nguyễn Xuân H vắng mặt và chị Vương Thị K có đơn từ chối hoà giải nên phiên họp không thể tiến hành được.
Ngày 09-01-2025, chị Vương Thị K có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến theo nội dung đã trình bày tại bản tự khai.
Tại phiên toà, các đương sự đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Yên Bái tại phiên toà: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Thủ tục phiên tòa đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn có đề nghị xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, nên việc xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung, căn cứ trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ và lời khai do các đương sự cung cấp, nội dung xác minh tại cơ sở thấy rằng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về ly hôn và tranh chấp nuôi con chung là có căn cứ do hiện nay tình trạng vợ chồng giữa các đương sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Việc nguyên đơn đề nghị bị đơn nuôi con chung phù hợp với thực tế hiện nay cháu đang sinh sống cùng bị đơn. Qua xác minh đã xác định được hiện nay nguyên đơn đang đi làm ăn xa, không ở địa phương nên điều kiện nuôi con không được đảm bảo. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để xử cho nguyên đơn ly hôn với bị đơn và giao con chung cho bị đơn nuôi dưỡng. Do bị đơn không tham gia tố tụng, không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên nguyên đơn không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Theo quy định tại các Điều 51, Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình
Về tài sản chung: Do các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết ly hôn và tranh chấp về nuôi con với bị đơn cư trú tại xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Yên Bái theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng. Nguyên đơn có đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy Toà án căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và Giấy chứng nhận kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã M, huyện L cấp ngày 28-11-2013. Thể hiện việc kết hôn giữa anh Nguyễn Xuân H và chị Vương Thị K là hợp pháp. Theo lời khai của nguyên đơn thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh trầm trọng, do không thể hàn gắn được nên hai người đã sống ly thân. Lời khai của nguyên đơn về tình trạng hôn nhân của vợ chồng phù hợp với nội dung do Trưởng thôn K, xã M và người làm chứng là bà Lê Thị T, mẹ đẻ anh Nguyễn Xuân H cung cấp. Nên có đủ căn cứ để khẳng định hôn nhân của vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Do đó, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để xử cho chị Vương Thị K ly hôn với anh Nguyễn Xuân H.
Về con chung: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các giấy khai sinh, thể hiện: Chị Vương Thị K và anh Nguyễn Xuân H có 01 con chung là cháu Nguyễn Phương L - Sinh ngày 05-8-2016. Cháu Nguyễn Phương L có nguyện vọng được ở với bố. Qua xác minh tại cơ sở, thể hiện: Hiện nay cháu Nguyễn Phương L đang sinh sống, học tập ổn định cùng bố và ông bà nội tại xã M, huyện L. Chị Vương Thị K cũng có nguyện vọng giao con chung cho anh Nguyễn Xuân H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
Vì vậy, để đảm bảo cho quyền lợi của cháu Nguyễn Phương L được chăm sóc, giáo dục và phát triển tốt nhất, tránh sự thay đổi môi trường sinh sống, học tập. Cần căn cứ vào quy định của các Điều 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị Vương Thị K, giao cháu Nguyễn Phương Linh cho anh Nguyễn Xuân H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
Do chị Vương Thị K đề nghị không phải cấp dưỡng nuôi con chung; anh Nguyễn Xuân H là người được giao trực tiếp nuôi dưỡng con chung không tham gia tố tụng, không có ý kiến, yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con. Nên Hội đồng xét xử không giải quyết về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Xuân H có quyền khởi kiện để yêu cầu chị Vương Thị K cấp dưỡng nuôi con chung trong vụ án khác.
Về tài sản chung và nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, Toà án không xem xét giải quyết.
Về án phí và chi phí tố tụng: Chị Vương Thị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Yên Bái về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự ; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Vương Thị K
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vương Thị K được ly hôn với anh Nguyễn Xuân H.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phương L - Sinh ngày 05-8-2016 cho anh Nguyễn Xuân H được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Chị Vương Thị K có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi cần, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về án phí: Chị Vương Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số: AA/2024/0001288 ngày 03-12-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Yên Bái. Chị Vương Thị K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Vương Thị K, anh Nguyễn Xuân H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện L; - Các đương sự - THA Dân sự huyện L; - Niêm yết, UBND xã M - Lưu: Hồ sơ, | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Dũng |