- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hà - hiến"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5; khoản 6 - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày 16/01/2025 V/v “Tranh chấp Ly hôn, con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sự Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Hoàng
Ông Trương Đức Lâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 212/2024/TLST
- HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 92/QĐST-HNGĐ ngày 31/12/2024 giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1999 ( có mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn An Lập, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Nơi ở: Thôn Đoàn Kết, xã Thường Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
- Bị đơn: Anh Lưu Ngọc H1, sinh năm 1999 ( vắng mặt) Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Lưu Ngọc H1 vào ngày 04/02/ 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang, kết hôn tự nguyện, có tìm hiểu nhau trước khi kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau ngay và chung sống với gia đình nhà chồng. Trong quá trình chung sống thì cuộc sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H1 hay đánh đập chị, cầm cố tài sản để đầu tư với những trò chơi tiêu khiển và có mối quan hệ ngoài luồng. Khi mâu thuẫn thì đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng không được. Hai bên đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2024 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân thì hai bên không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn anh H1.
- Về con chung: Chị xác định có 02 con chung là cháu Lưu Ngọc A, sinh ngày 07/6/2019 và cháu Lưu Ngọc B, sinh ngày 07/6/2019. Hiện nay cháu A đang sống với chị, còn cháu B đang sống cùng anh H1. Khi ly hôn thì chị xin được nuôi cả hai con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay chị đang làm công nhân, thu nhập 6.000.000 đồng/tháng, chị xác định có đủ điều kiện về kinh tế và thời gian để chăm sóc con chung.
- Về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị xác định không có, không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Tại phiên tòa chị H có mặt, giữ nguyên yêu cầu của mình. Chị xin được ly hôn anh H1; về con chung chị xin được nuôi cả 2 con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, chị không yêu cầu xem xét, giải quyết.
*Bị đơn anh Lưu Ngọc H1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tuy nhiên không lên Toà án làm việc cũng như không có ý kiến gì về việc chị H có đơn xin ly hôn. Tại phiên toà anh H1 vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án.
- Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn anh Lưu Ngọc H1.
2. Về con chung: Giao cháu Lưu Ngọc A, sinh ngày 07/6/2019 và cháu Lưu Ngọc B, sinh ngày 07/6/2019 cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng chị Vũ Thị H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
3. Về công nợ, tài sản chung: Chị Vũ Thị H không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0004137 ngày 03/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Vũ Thị H đã nộp đủ. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Ngày 04 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Vũ Thị H xin ly hôn anh Lưu Ngọc H1 có nơi cư trú tại địa bàn huyện H là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về tố tụng: Tại phiên tòa anh H1 vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 -của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh H1 là có căn cứ.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H xin ly hôn anh Lưu Ngọc H1 xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện H năm 2020, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng là hôn nhân hợp pháp (Theo Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình). Qua xác minh tại địa phương và gia đình, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử, xét thấy chị H và anh H1 sau khi về chung sống thì thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn cho đến nay, nguyên nhân do anh H1 không có trách nhiệm với gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng dạn nứt. Khi xẩy ra mâu thuẫn đã được gia đình hai bên và vợ chồng tự hòa giải nhưng không thành. Hiện nay, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2024 cho đến nay, hai bên không còn quan tâm đến với nhau. Bản thân anh Lưu Ngọc H1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tuy nhiên không lên Toà án làm việc cũng như không có ý kiến gì về việc chị H có đơn xin ly hôn. Như vậy, xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung của chị H và anh H1 không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung là cháu Lưu Ngọc A, sinh ngày 07/6/2019 và cháu Lưu Ngọc B, sinh ngày 07/6/2019. Khi ly hôn, thì chị H có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung và đều không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Xét về điều kiện thời gian chăm sóc, kinh tế, và đảm bảo cuộc sống ổn định của con chung thì cần giao cả hai con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H xác định không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0004137 ngày 03/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị H đã nộp đủ.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 - Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Điểm a khoản 5; khoản 6 - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn anh Lưu Ngọc H1.
2. Về con chung: Giao cháu Lưu Ngọc A, sinh ngày 07/6/2019 và cháu Lưu Ngọc B, sinh ngày 07/6/2019 cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Vấn đề cấp dưỡng chị Vũ Thị H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về công nợ, tài sản chung: Chị Vũ Thị H không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0004137 ngày 03/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Vũ Thị H đã nộp đủ.
5. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được ( hoặc niêm yết) bản án.
6.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Hiệp Hòa; - CCTHADS huyện Hiệp Hòa; - UBND xã Đoan Bái; - Các đương sự; - Lưu hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Sự |