- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lương Thị C-Tính Sao Ph"
- Tòa quyết gì? hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày 09-01-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH L
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Bích Th.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Tuấn Th.
2. Bà Nguyễn Thị Hằng H.
Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị T - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh L tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thanh D - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng,
tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 139/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/12/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị C - Sinh năm 1977.
Địa chỉ: Thôn Phú Sơn, xã Phú Nhuận, huyện B, tỉnh L. Vắng mặt và có
đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Tính Sao Ph (Tên gọi khác Tính Sào Phà) - Sinh năm
1972.
Địa chỉ: Thôn Phú Sơn, xã Phú Nhuận, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án và bản tự khai cũng như trong quá
trình giải quyết vụ án, chị Lương Thị C trình bày:
Chị và anh Tính Sao Ph đăng ký kết hôn vào ngày 07/04/2004 tại Uỷ ban
nhân dân xã Phú Nhuận, huyện B, tỉnh L. Quá trình chung sống đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Phà thường xuyên sử dụng ma túy dù đã đi cải tạo về, không chịu khó làm ăn và chăm lo con cái, thiếu trách nhiệm với gia đình, từ đó vợ chồng thường xuyên xô xát cãi nhau, cuộc sống gia đình không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng tình cảm vẫn không cải thiện được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2019, mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Bản thân chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên đến nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tính Sao Ph.
Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có ba người con chung tên là
Lương Văn Bến, sinh ngày: 21/01/2005; Tính Hoa Mai, sinh ngày: 02/12/2011 và Tính Sinh Đường, sinh ngày 04/06/2014, hiện tại các cháu phát triển bình thường. Khi ly hôn cháu Lương Văn Bến đã đủ tuổi trưởng thành nên chị Cảnh không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị có nguyện vọng nuôi cháu Tính Hoa Mai và cháu Tính Sinh Đường đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Phà phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: Về tài sản chung anh chị tự thỏa thuận
không đề nghị Tòa án giải quyết, anh chị không nợ ai và không cho ai vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, do anh Tính Sao Ph đi làm ăn xa, không
thường xuyên có mặt tại địa phương, nên Tòa án không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho anh Phà và Tòa án đã tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận không khai
chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên Toà án không hòa giải được vụ án vì vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu ý kiến
trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật: Về thủ tục Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ và giải quyết trong thời hạn luật định.
Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng;
Bị đơn đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, quá trình giải quyết vụ án thì bị đơn vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử cho chị Lương Thị C được ly hôn với anh Tính Sao Ph; Giao cháu Tính Hoa Mai và cháu Tính Sinh Đường cho chị Lương Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Phà không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, được đi lại thăm nom. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra
tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lương Thị C khởi kiện xin ly hôn với anh Tính
Sao Ph. Bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Phú Nhuận, huyện B, tỉnh L. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh L theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lương Thị C và anh
Tính Sao Ph là hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cách làm ăn tạo dựng cuộc sống gia đình và nuôi dậy con cái, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng anh chị sống ly thân từ năm 2019 đến nay không còn quan tâm đến nhau, mỗi người một nơi. Trong quá trình giải quyết vụ án, do anh Phà không thường xuyên có mặt tại địa phương vì vậy Tòa án đã tiến hành xác minh và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Mâu thuẫn của vợ chồng chị Cảnh đã được địa phương xác nhận là đúng sự thật.
Vì vậy việc chị Cảnh xin ly hôn với anh Phà là có căn cứ, phù hợp với
quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Do anh Tính Sao Ph đi làm ăn xa không thường xuyên có mặt tại địa
phương, nên Tòa án không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho anh Phà và Tòa án đã tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt anh Phà là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có ba người con chung là
Lương Văn Bến, sinh ngày: 21/01/2005; Tính Hoa Mai, sinh ngày: 02/12/2011 và Tính Sinh Đường, sinh ngày 04/06/2014, hiện tại các cháu phát triển bình thường. Khi ly hôn cháu Lương Văn Bến đã đủ tuổi trưởng thành nên chị Cảnh không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị có nguyện vọng nuôi cháu Tính Hoa Mai và cháu Tính Sinh Đường đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Phà phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, anh Phà vắng mặt tại địa phương nên
Tòa án phải niêm yết các văn bản tố tụng cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Chị Cảnh đã cung cấp đơn có xác nhận của địa phương về mức thu nhập của bản thân, đảm bảo điều kiện nuôi con. Vì vậy cần tiếp tục giao cháu Tính Hoa Mai và cháu Tính Sinh Đường cho chị Cảnh trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với nguyện vọng của cháu Mai và cháu Đường. Do chị Cảnh không yêu cầu anh Phà cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị
Cảnh trình bày về tài sản chung anh chị tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết, anh chị không nợ ai và không cho ai vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Cảnh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Xử cho chị Lương Thị C được ly hôn với anh Tính Sao Ph. Quan hệ
hôn nhân giữa chị Lương Thị C và anh Tính Sao Ph chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Tính Hoa Mai, sinh ngày: 02/12/2011 và
cháu Tính Sinh Đường, sinh ngày: 04/06/2014 cho chị Lương Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.
Anh Tính Sao Ph không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
chung. Sau khi ly hôn, anh Tính Sao Ph có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Lương Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000
đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0001020 ngày 07/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh L; Chị Lương Thị C đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn, bị
đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
| - Tòa án nhân dân tỉnh L; - VKSND huyện B (2); - THADS huyện B; - UBND xã Phú Nhuận; - Đương sự (02); - Lưu HS, TA, VP . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Bích Thủy TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoàng Liên |