vanban.org

Bản án 03/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Thu H và anh Đinh Thiện H1.

Về con chung: Giao cháu Đinh Nhật T, sinh ngày 27/11/2019 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Anh H1 không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của chị H. Chị H cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh H1 trong … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Vũ Thị H và bị đơn Đinh Thiện H1"
  • Tòa quyết gì? Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Thu H và anh Đinh Thiện H1.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ - ST
Ngày 17-01-2025
V/v tranh chấp về ly hôn,
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hải Tăng.

2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quag Tất - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 92/2024/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Thu H, sinh năm 1993; địa chỉ: Số nhà N, phố B, phường T, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Đinh Thiện H1, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam (nay là thôn B, phường T, thị xã K, tỉnh Hà Nam); hiện đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại số X, Trại giam T; địa chỉ: Thị trấn C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vũ Thị Thu H trình bày: Chị kết hôn với anh Đinh Thiện H1 trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 21/11/2017 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến khoảng tháng 3/2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H1 chơi bời và sa ngã vào tệ nạn xã hội dẫn đến nghiện ma túy, chị và gia đình đã khuyên bảo rất nhiều nhưng anh H1 không thay đổi mà vẫn ham chơi, thường xuyên sử dụng ma túy. Ngày 27/9/2021 anh H1 vi phạm pháp luật và bị bắt tạm giam, đến tháng 3/2022 anh H1 bị Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội kết án 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn anh Đinh Thiện H1.

Tại bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, có xác nhận của Ban Giám thị Trại giam T, bị đơn là anh Đinh Thiện H1 trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa anh với chị Vũ Thị Thu H và thời điểm anh vi phạm pháp luật bị Tòa án có thẩm quyền kết án đúng như chị H đã trình bày. Nay chị H xin ly hôn, anh xác định mặc dù tình cảm của anh với chị H vẫn còn nhưng anh cũng nhất trí ly hôn.

Về con chung: Chị H và anh H1 thống nhất xác định vợ chồng anh chị có một con chung là Đinh Nhật T, sinh ngày 27/11/2019, hiện nay đang ở với chị H. Anh chị đều thống nhất quan điểm khi vợ chồng ly hôn sẽ giao cháu T chị H nuôi dưỡng, anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị H.

Về con riêng: Chị H và anh H1 thống nhất xác định vợ chồng không ai có con riêng nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức đóng góp, công nợ, đất nông nghiệp: Chị H, anh H1 thống nhất không có nên không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án, xác định tư cách đương sự đều đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Thu H, xử thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Thu H và anh Đinh Thiện H1. Về con chung: Giao cháu Đinh Nhật T cho chị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Vũ Thị Thu H và bị đơn là anh Đinh Thiện H1 đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị Thu H và anh Đinh Thiện H1 là hợp pháp, anh chị đăng ký kết hôn với nhau ngày 21/11/2017 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày kết hôn anh chị chung sống hòa thuận đến khoảng năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H1 không quan tâm đến gia đình, không tu chí làm ăn, ham chơi nên sa ngã vào tệ nạn ma túy. Nay cả chị H và anh H1 cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân giữa chị H và anh H1 thực sự đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị H và anh H1 là hoàn toàn phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị H và anh H1 có một con chung là Đinh Nhật T, sinh ngày 27/11/2019, hiện nay đang ở với chị H. Lời khai của chị H và anh H1 đều có quan điểm khi ly hôn sẽ giao cháu T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh H1 không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị H. Xét quan điểm này của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

Về con riêng; tài sản chung; tài sản riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Chị H và anh H1 cùng thống nhất xác định vợ chồng không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị H và anh H1 thuận tình ly hôn nên mỗi bên phải chịu 50% mức án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Thu H và anh Đinh Thiện H1.

2. Về con chung: Giao cháu Đinh Nhật T, sinh ngày 27/11/2019 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, lao động tự lập được. Anh H1 không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của chị H.

Chị H cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh H1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T.

3. Án phí: Chị Vũ Thị Thu H và anh Đinh Thiện H1 mỗi người phải chịu 75.000đ (bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H, chuyển số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000197 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam để đối trừ vào tiền án phí ly hôn chị H, anh H1 phải chịu. (Chị H và anh H1 đã thi hành xong phần án phí ly hôn sơ thẩm). Hoàn trả lại cho chị Vũ Thị Thu H số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ