- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bà Trịnh Thị Mỹ N tranh chấp nợ hụi với là Lê Thị Thanh T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị Mỹ N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6-VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/DS-ST Ngày: 17-7-2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6-VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đoan Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Vui
Ông Nguyễn Thanh Hùng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phan Trọng Thế-Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số 73/2025/TLST-DS ngày 31 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2025/QĐXXST-DS ngày 30/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 113/2025/QĐST-DS ngày 18/6/2025 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Mỹ N, sinh năm 1990
Địa chỉ: ấp GT, xã NPT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre (nay là ấp GT, xã NPT, tỉnh Vĩnh Long);
Đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Văn V, sinh năm 1961
Địa chỉ: 74/2 ấp PM, xã PT, huyện CT, tỉnh Bến Tre (nay là 74/2 ấp PM, xã PT, tỉnh Vĩnh Long); (ông Hồ Văn V có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt);
*Bị đơn: Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1988;
Địa chỉ: ấp TX, xã NPT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre (nay là ấp TX, xã NPT, tỉnh Vĩnh Long)(vắng mặt);
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lữ Minh V, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Bà Trương Thị L, sinh năm 1955 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp TX, xã NPT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre (nay là ấp TX, xã NPT, tỉnh Vĩnh Long)(vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện,bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trịnh Thị Mỹ N là ông Hồ Văn V trình bày:
Nguyên đơn bà Trịnh Thị Mỹ N có chơi 01 dây hụi do gia đình bà T, ông V, bà L tổ chức chơi hụi ở địa phương. Dây hụi 1.000.000đồng khui ngày 30/11/2022 âm lịch, mãng ngày 30/12/2024 âm lịch, dây hụi gồm có 27 phần, bà N chơi 01 phần, đóng được 21 lần đến tháng 7/2024 với số tiền 21.000.000đồng thì bà T tuyên bố bể hụi. Mặc dù bà T là người đứng ra lập giấy tờ danh sách hụi viên nhưng các thành viên trong gia đình bà T gồm ông V chồng bà T và mẹ chồng bà T là bà L đều biết việc tổ chức chơi hụi này, ông V, bà L còn giúp bà T thu và giao tiền hụi từ hụi viên. Việc bà T, ông V tổ chức chơi hụi là để phục vụ cho đời sống sinh hoạt chung trong gia đình của bà T.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà T liên đới với ông V, bà L trả cho bà N số tiền nợ hụi là 21.000.000đồng. Ngày 14/6/2025, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bà L liên đới trách nhiệm với bà T, ông V trả tiền nợ hụi.
* Trong biên bản hòa giải, bản tự khai bị đơn bà Lê Thị Thanh T trình bày:
Bị đơn bà Lê Thị Thanh T thống nhất với lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà T thừa nhận bà N có chơi dây hụi 1.000.000 đồng mở ngày mùng 10 hàng tháng. Bà N là hụi viên trong dây hụi của bà, do nhiều hụi viên giật hụi của bà nên bà chưa có khả năng trả tiền hụi cho bà N. Bà thừa nhận còn nợ tiền hụi của bà N tổng cộng là 21.000.000đồng và đồng ý trả cho bà N. Nhưng chồng bà ông V và mẹ chồng bà là bà L không biết gì việc bà chơi hụi, mục đích bà chơi hụi để lấy tiền sử dụng riêng không đem về cho gia đình bà cũng như không lo cho chồng con trong sinh hoạt hằng ngày nên bà không đồng ý chồng bà và mẹ chồng bà liên đới trách nhiệm trả số tiền nợ hụi cho bà N. Mẹ chồng và chị chồng lo nhà cửa, ăn uống và lo 02 con bà đi học. Do đó, chồng bà và mẹ chồng bà không đồng ý liên đới trả tiền hụi cho bà N.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Vĩnh Long phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về quan điểm giải quyết: Ghi nhận đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút yêu cầu bà L liên đới trách nhiệm cùng bà T, ông V trả tiền nợ hụi cho bà N. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà T và ông V có trách nhiệm liên đới trả cho bà N số tiền nợ hụi là 21.000.000đồng. Ghi nhận nguyên đơn bà N không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trịnh Thị Mỹ N yêu cầu bị đơn bà Lê Thị Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lữ Minh V liên đới trách nhiệm trả tiền nợ hụi. Do bà T, ông V có địa chỉ cư trú tại Trung Xuân, xã Nhuận Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long; Do đó, căn cứ các Điều 26 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng góp hụi ” nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6-Vĩnh Long.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 6-Vĩnh Long đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên hòa giải cho bị đơn bà Lê Thị Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lữ Minh V, bà Trương Thị L nhiều lần nhưng ông V, bà L vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể hòa giải được. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng bà T, ông V, bà L vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân khu vực 6-Vĩnh Long tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà T, ông V, bà L là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Nguyên đơn bà Trịnh Thị Mỹ N trình bày, bà có chơi 01 dây hụi do bà Lê Thị Thanh T và ông Lữ Minh V, bà Trương Thị L tổ chức ở địa phương. Dây hụi 1.000.000đồng khui ngày 30/11/2022 âm lịch, mãng ngày 30/12/2024 âm lịch, gồm có 27 phần, bà N chơi 01 phần, đóng được 21 lần đến tháng 7/2024 với số tiền 21.000.000đồng thì bà T tuyên bố bể hụi. Bị đơn bà T thừa nhận bà N có chơi 01 dây hụi do bà làm chủ, bà thống nhất hiện nay còn nợ bà N tổng cộng số tiền 21.000.000đồng. Bà T đồng ý trả cho bà N số tiền hụi 21.000.000 đồng. Bà T không đồng ý ông V, bà L liên đới trách nhiệm trả tiền hụi cho bà N với lý do: bà T làm chủ hụi, ông V và bà L không biết gì việc bà chơi hụi, mục đích bà chơi hụi để lấy tiền sử dụng riêng không lo gì cho chồng con và gia đình. Tuy nhiên, Căn cứ Điều 15 và Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về quyền của thành viên và nghĩa vụ của chủ hụi thì bà T phải có trách nhiệm hoàn trả lại phần tiền hụi mà bà N đã góp là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ghi nhận bà Trịnh Thị Mỹ N không cầu tính lãi đối với số tiền trên.
Xét yêu cầu ông V liên đới trách nhiệm với bà T trả tiền hụi:
Bà Lê Thị Thanh T với ông Lữ Minh V có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NPT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre vào ngày 06/3/2007 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống ông V, bà T có 02 người con còn nhỏ đang đi học, ông V không có nghề nghiệp gì khác ngoài làm vườn ở gia đình. Bà T và ông V là lao động chính trong gia đình, việc bà T cho rằng mục đích bà chơi hụi để sử dụng riêng không sử dụng chăm lo cho gia đình, tất cả chi phí sinh hoạt, tiền điện, tiền nước, tiền học hành hàng tháng trong gia đình và 02 con bà là do mẹ chồng bà đã 80 tuổi lo hết là không phù hợp; Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù bà T phủ nhận mục đích bà chơi hụi có chăm lo cho gia đình bà, tuy nhiên căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình, quy định về “Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện” thì vợ, chồng phải có nghĩa vụ chung. Vì vậy, ông V phải có trách nhiệm liên đới với bà T trả số tiền nợ hụi cho bà N là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà T và ông V có trách nhiệm liên đới trả cho bà N số tiền nợ hụi là 21.000.000đồng.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà L liên đới trách nhiệm trả tiền nợ hụi với bà T, ông V nên Tòa án đình chỉ giải quyết.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà T, ông V có trách nhiệm liên đới chịu án phí theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 288, 471 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 26, 35, 147 và Điều 227, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;
- Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị Mỹ N.
Cụ thể tuyên:
1. Buộc bà Lê Thị Thanh T và ông Lữ Minh V có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trịnh Thị Mỹ N số tiền nợ hụi là 21.000.000 (Hai mươi mốt triệu)đồng. Ghi nhận bà Trịnh Thị Mỹ N không cầu tính lãi đối với số tiền trên.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền chưa được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Mỹ N về việc yêu cầu bà Trương Thị L liên đới trách nhiệm với bà Lê Thị Thanh T, ông Lữ Minh V trả số tiền nợ hụi cho bà Trịnh Thị Mỹ N.
3. Về án phí: án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bị đơn bà Lê Thị Thanh T và ông Lữ Minh V có trách nhiệm liên đới phải chịu là 1.050.000(Một triệu không trăm năm mươi ngàn) đồng.
Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long có trách nhiệm hoàn lại cho nguyên đơn bà Trịnh Thị Mỹ N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 525.000(Năm trăm hai mươi lăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009362 ngày 31/3/2025.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND khu vực 6-Vĩnh Long; - THADS tỉnh Vĩnh Long; - Các đương sự; - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ. CÁC HỘI THẨM NHÂN Đoàn Văn Vui Nguyễn Thanh Hùng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Đoan Trang THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Đoan Trang |