- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín - Lê Văn Sơn"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 03/2025/DS-ST Ngày 16-7-2025 Về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Danh
2. Ông Nguyễn Bá Lộc
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Tín, thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 181/2025/TLST – DS ngày 09 tháng 4 năm 2025, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2025/QĐXX – ST ngày 13-6-2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 72/2025/QĐ-ST ngày 30-6-2025 giữa các bên:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S1. Địa chỉ Trụ sở: 2 N, Phường V, Quận C, Tp ..
Đại diện theo pháp luật: Nguyễn Đức Thạch D. Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Trần Duy T – Trưởng PGD Ngân hàng TMCP S1 – Chi nhánh B-PGD Thắng T1, theo giấy ủy quyền số: 4039/2024/QĐ-PC ngày 27-12-2024 "V/v ủy quyền ký hợp đồng thỏa thuận, văn bản và tham gia tố tụng" của Tổng Giám Đốc Ngân hàng TMCP S1.
Người đại diện theo pháp luật hiện nay: Ông Nguyễn Thanh N. Chức vụ: Quyền Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP S1, kể từ ngày 27-5-2025, theo Quyết định số: 3510/2025/QĐ-QTNNL ngày 22-5-2025 và Thông báo số: 1768/2025/TB-TGĐ ngày 27-5-2025.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng: Bà Ngô Thị Thu T2, Chức vụ: Chuyên viên khách hành-Phòng G, là đại diện theo ủy quyền giấy ủy quyền ngày 09-4-2025.
Địa chỉ nhận các văn bản của Tòa án: Số H N, phường T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bị đơn: Lê Văn S, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (nay là Tổ A, ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt lần 2 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06 tháng 02 năm 2025 và quá trình tố tụng tại Tòa, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 bà Ngô Thị Thu T2 trình bày:
Ngày 10 tháng 5 năm 2023, Ngân hàng thương mại cổ phần S1 cấp tín dụng cho ông Lê Văn S theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, ban hành kèm theo điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần S1, có hiệu lực từ 22-10-2022. Hạn mức tín dụng: 100.000.000 đồng, số thẻ 436438-5382; số tài khoản thẻ 3921128934. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông S đã giao dịch với tổng số tiền: 100.000.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, tính từ ngày kích hoạt ông S vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại điều 2 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ. Qua nhiều lần nhắc nhở ông S vẫn không thực hiện trả nợ. Đến ngày 25-10-2024 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 15-7-2025, ông S còn nợ tổng số tiền: 138.290.036 đồng. Trong đó; nợ gốc: 110.273.961 đồng và lãi quá hạn: 28.016.075 đồng.
Tại phiên tòa, bà Ngô Thị Thu T2 yêu cầu buộc ông Lê Văn S phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ là 138.290.036 đồng, tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử cho đến khi ông S thanh toán hết nợ cho Ngân hàng tính theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Từ khi Toà án thụ lý vụ án, đã nhiều lần triệu tập ông Lê Văn S đến Toà giải quyết về số nợ Ngân hàng yêu cầu ông phải trả nhưng ông S vắng mặt không có lý do nên không xác định rõ yêu cầu.
- Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và nguyên đơn tuân theo quy định của pháp luật. Bị đơn không tuân theo quy định của pháp luật.
+ Tại phiên xét xử: Hội đồng xét xử, thư ký và nguyên đơn tuân theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần S1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Văn S trả tiền nợ gốc, lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông S hiện đang sinh sống tại xã L, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Lê Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, ban hành kèm theo điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần S1, có hiệu lực từ ngày 22-10-2022 thì ông Lê Văn S được Ngân hàng thương mại cổ phần S1 (gọi tắt Ngân hàng) cấp thẻ tín dụng, số tiền vay 100.000.000 đồng, ông S nhận tiền vay ngay sau khi ký hợp đồng bằng cách chuyển toàn bộ số tiền vay vào số tài khoản thẻ: 3921128934 mang tên Lê Văn S. Cho thấy, việc vay tiền giữa hai bên là có thật. Theo Ngân hàng xác nhận ông S trả nợ hàng tháng không đều, có tháng trả có tháng không nhưng cũng chỉ trả đến ngày 25-8-2024 thì ngưng trả nợ nên ngày 25-10-2022 ngân hàng chấm dứt thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (thỏa thuận tại Điều 18 và 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng ngân hàng). Căn cứ Bảng tóm tắt sao kê ngày 15-7-2025 của Ngân hàng thì ông S còn nợ tổng số tiền: 138.290.036 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng có cơ sở. Xét chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Lê Văn S phải nộp 6.915.000 đồng được tính như sau: (138.290.036 đồng x 5%). Ngân hàng không phải nộp án phí nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228, của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S1 đối với ông Lê Văn S.
Buộc ông Lê Văn S phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 tổng số tiền 138.290.036đ (Một trăm ba mươi tám triệu hai trăm chín mươi ngàn không trăm ba mươi sáu đồng). Trong đó, nợ gốc: 110.273.961đ (Một trăm mười triệu hai trăm bảy mươi ba ngàn chín trăm sáu mươi một đồng), lãi quá hạn 28.016.075đ (Hai mươi tám triệu không trăm mười sáu ngàn không trăm bảy mươi lăm đồng), từ ngày 16-7-2025 ông S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 10-5-2023, ban hành kèm theo điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần S1, có hiệu lực từ ngày 22-10-2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Lê Văn S phải nộp 6.915.000đ (Sáu triệu chín trăm mười lăm ngàn đồng).
- Hoàn số tiền: 3.033.814đ (Ba triệu không trăm ba mươi ba ngàn tám trăm mười bốn đồng) cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 theo Biên lai thu tạm ứng số 0002371 ngày 02-4-2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt quyền kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết công khai.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 6a, 7, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - Tòa án ND Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện KS ND khu vực 13-Tp. HCM; - Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 13-Tp. HCM; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ./. 1. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thị Thanh Trúc |