vanban.org

Bản án 03/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 18/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỐT NỐT
TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------
Bản án số 03/2024/HS-ST.
Ngày 18/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Lộc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Hồng Vũ

2/ Ông Tăng Tài Thủ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 89/2023/TLST- HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Minh C - Sinh năm: 1985. Đăng ký thường trú: ấp D, xã V, thị xã T, An Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1954 (sống); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1955 (sống).

Tiền sự: không.

Tiền án 03 lần:

+ Ngày 28/12/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.

+ Ngày 03/3/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt với Bản án 80/2010/HSST ngày 28/12/2010 của Tòa án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp là 11 năm tù giam. Chấp hành xong án phạt tù ngày 20/4/2020.

+ Ngày 04/02/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 04/12/2022.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an quận T, thành phố Cần Thơ.

2/ Họ và tên: Vũ Quang N1 - Sinh năm: 1991 Đăng ký thường trú: Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;

Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Vũ Quang S, (chết); Họ tên mẹ: Vương Kim V, sinh năm: 1965 (sống).

Tiền sự: không.

Tiền án 01 lần: Ngày 16/10/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 04 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 19/5/2022.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an quận T, thành phố Cần Thơ.

Người bị hại: 1/ Ông Trần Nhật Q - sinh năm: 1985 ( Vắng mặt)

2/ Bà Trần Thị Thanh X - sinh năm: 1985 ( Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: KV T, P. T, Q. T, Cần Thơ

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Vũ Quang T1 – sinh năm: 1989 ( Vắng mặt)

Địa chỉ: khóm Đ, P. M, Tp ., An Giang.

2/ Bà Lương Thị H – sinh năm: 1968( Vắng mặt)

Địa chỉ: khóm T, phường M, Tp ., An Giang.

3/ Bà Nguyễn Thị Quỳnh N2 – sinh năm: 1997( Có mặt)

Địa chỉ: kênh Đ, phường M, Tp L, tỉnh An Giang.

4/ Ông Nguyễn Văn L – sinh năm: 1999( Vắng mặt)

Địa chỉ: khóm Đ, P. M, Tp ., An Giang.

Người làm chứng: Ông Bùi Thanh S1 – sinh năm: 2010 ( vắng mặt)

Địa chỉ: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.

Người giám hộ cho Bùi Thanh S1: Ông Đặng Trúc P – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T3 ( vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 15/7/2023, Vũ Quang N1 đến phòng trọ của Nguyễn Minh C ngụ khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang rủ C: “ hỏa quá rồi tối nay hai anh em đi làm” và nói với C đến rước N1 ở phòng trọ bạn gái Nam số 76 Kênh Đ, khóm Đ , phường M, tỉnh An Giang, C đồng ý. Sau đó, C đến chợ M1, thành phố L, tỉnh An Giang mua 01 kiềm thủy lực hàng bãi nhật với giá 2.100.000 đồng và chuẩn bị một cây tua vít đầu dẹp để làm công cụ cạy, cắt cửa, cắt khóa. Đến khoảng 00 giờ ngày 16/7/2023, C gặp Bùi Thanh S1 (C1, sinh năm 2010, con nuôi C), C rủ S1 đi trộm cắp tài sản của người khác, S1 đồng ý. Đến khoảng 02 giờ ngày 16/07/2023, Nguyễn Minh C điều khiển xe môtô Vision màu đen không rõ biển kiểm soát chở S1 đến nhà bạn gái N1 rước N1 về nhà của N1 tại Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang để chuẩn bị đi trộm cắp tài sản.

Khoảng 03 giờ cùng ngày, N1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda số loại Vision màu đen không rõ biển kiểm soát chở S1 ngồi trước C ngồi sau, khi đến cổng chào thành phố L thuộc phường M thì đổi người điều khiển, C điều khiển xe mô tô Vision chở N1 và S1 dọc theo Quốc lộ I hướng L - T. Khi đi đến gần chân cầu B, C điều khiển xe vào đường phía bên phải của cầu B khoảng 200m thì phát hiện nhà bà Trần Thị Thanh X và ông Trần Nhật Q thuộc khu vực T, phường T khoá ngoài nên nảy sinh ý định trộm, C dừng xe bên kia đường và mang theo một cây kiềm thủy lực, một cây tua vít đầu dẹp đi qua phía căn nhà của bà X, ông Q để cắt khoá đột nhập vào trong nhà, N1 và S1 ngồi bên ngoài cảnh giới, C leo qua hàng rào dùng kiềm thuỷ lực cắt đứt ổ khoá, tiếp tục dùng tua vít đầu dẹp cạy ổ khoá cửa đột nhập vào trong nhà. Khi vào bên trong nhà, C tìm kiếm tài sản phát hiện và lấy trộm trong hộc tủ bàn ở phòng khách 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu Mwatch, số loại JDW136, mặt đồng hồ hình vuông bằng kim loại màu vàng, dây đồng hồ bằng kim loại màu vàng, bạc, 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu MICHAEL KORS, số loại MK7306, mặt đồng hồ hình tròn, nền màu đỏ, dây da màu đỏ; tại bàn thờ phòng khách 01 cây kiếm bằng gỗ dài 101 cm, màu nâu; lưỡi kiếm bằng gỗ dài 68cm, cán cầm gỗ 28cm, vỏ kiếm bằng gỗ dài 72cm, màu nâu, loại gỗ gỏ mật và 01 túi đựng đồ cúng lê, lộc của bà nằm ở vị trí để tập sách. Sau đó, C sử dụng tua vít và kiềm cắt thuỷ lực cạy cửa phòng ngủ của bà X đột nhập vào trong phòng, C đi đến bàn làm việc của ông Trần Nhật Q mở hộp đựng đồng hồ để trên bàn lấy trộm 06 cái đồng hồ gồm: 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu SUNRISE, số loại FM602FWB, mặt đồng hồ tròn, bằng kim loại màu bạc, dây bằng kim loại màu bạc; 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu ENICAR ULTRASONIC, mặt đồng hồ tròn màu xanh dương, dây da màu đen; 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu Lucerne, số loại 14690, mặt đồng hồ bằng kim loại màu vàng, dây da màu nâu; 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu OMEGA, mặt đồng hồ tròn, bằng kim loại màu vàng, dây bằng kim loại màu vàng, bạc; 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu BREITLING 1984, số loại AB0110, mặt đồng hồ bằng kim loại, dây da màu nâu; 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu BOSINI, số loại SR303S, mặt đồng hồ tròn bằng kim loại màu bạc, dây đồng hồ bằng kim loại màu bạc, vàng. C tiếp tục kéo ngăn bàn làm việc trộm một cái điện thoại di động Iphone 6S màu hồng của ông Q. Sau đó, C để hết tài sản vừa trộm được vào trong một cái túi rồi đi ra ngoài, N1 điều khiển xe mô tô chở S1 ngồi trước, C ngồi sau cùng với túi đựng các tài sản trộm được chạy về hướng L. Khi đến quán C2 (đã ngưng hoạt động) thuộc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, C và N1 kiểm tra tài sản trong cái túi của C trộm được có mấy cái bao lì xì xé ra có miếng vãi như lộc Bà núi sam và một số đồng tiền bằng nhựa không có giá trị nên N1 và C quăng bỏ, C đưa cho N1 một cái điện thoại di động Iphone 6s màu hồng và nói với N1 điều khiển xe mô tô V1 chở C và N1 về nhà của Nguyễn Văn T2 thuộc khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Tại nhà của T2, C nói với N1 trong nhà của bà X còn có một cái két sắt nên rủ N1 quay lại lấy trộm, N1 đồng ý và thống nhất đổi xe máy và thay đổi quần áo để không bị phát hiện. Lúc này, C đi bộ về phòng trọ C để thay đổi quần áo, rồi điều khiển xe môtô biển kiểm soát 67M1-591.46 chạy đến rước Nam, N1 cũng thay đổi quần áo, mang theo hai con dao cất giấu trong người đề phòng trường hợp có người phát hiện thì chống trả để tẩu thoát.

Khoảng 05 giờ 15 phút, C điều khiển xe môtô biển kiểm soát 67M1-591.46 chở N1 quay trở lại nhà bà X. Cả hai chạy qua căn nhà của chị X một đoạn để xem kiểm tra có ai phát hiện căn nhà bị trộm hay không và sau đó quay lại đậu xe cặp bên hàng rào, N1 và C đột nhập vào trong nhà của bà X và đi thẳng vào phòng ngủ của bà X thấy có 01 (Một) Két sắt kích thước khoảng 40cmx34cmx49cm, hiệu Gubback, màu đỏ, đen ở dưới chân giường, C phát hiện một túi màu vàng hình con vịt chứa quần áo, C trút hết quần áo ra ngoài, N1 đứng kế bên bàn làm việc của ông Q thấy có một cái đồng hồ mặt bằng kim loại màu vàng dây da không rõ nhãn hiệu lấy để vào túi quần, C đưa túi màu vàng cho N1 chùm cái két sắt và bê két sắt lên vai của N1 vác ra ngoài hàng rào, cả hai cùng bê két sắt lên xe mô tô của C; C điều khiển xe chở N1 ngồi phía sau ôm cái két sắt về hướng L. Trên đường đi cả hai thống nhất chở cái két sắt vào nhà bà Lương Thị H tại khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang do nhà bà H bỏ hoang không ai sinh sống. Sau khi cất giấu cái két sắt vừa trộm được vào trong nhà H rồi cả hai điều khiển xe quay về nhà trọ của C lấy một cây đục, một cây búa và một cây tua vít dẹp rồi cả hai quay lại nhà bà H để đục két sắt. Cả hai thay phiên nhau đục khoảng 30 phút thì cạy được cửa két sắt, C lấy tài sản trong két sắt gồm có: 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có hột màu đen; 01 (một) túi hình chữ nhật màu đỏ có chữ tiệm V2 bên trong có 01 (một) sợi dây chuổi hạt, số lượng 110 hạt chuổi bằng gỗ; 01 (một) túi hình chữ nhật màu đỏ có chữ tiệm V3 bên trong 01 (một) một chiếc vòng tay hình tròn đường kính 5,7cm, bề bảng rộng 05mm, màu trắng đã bị gãy; 01 (một) viên đá hình tròn đường kính 2,8cm, bề dày 05mm, màu trắng, xanh lá, có đục lổ tròn ở giữa; 01 (một) viên đá hình con tỳ hưu kích thước 02cmx01cmx01cm, màu xám đen; 01 (một) viên đá hình con tỳ hưu kích thước 02cmx01cmx0,5cm, màu xanh lá; 01 (một) viên đá hình phật kích thước 02cmx02cmx0,5cm, màu nâu đen; 01 (một) túi xách màu đỏ hồng; 01 (một) cây kiếm bằng gỗ dài 101cm, màu nâu; lưỡi kiếm bằng gỗ dài 68cm, cán cầm bằng gỗ 28cm, Vỏ kiếm bằng gỗ dài 72cm, màu nâu, loại gỗ gỏ mật; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE số loại 6S màu vàng hồng 64GB; 01 (một) két sắt kích thước khoảng 40cmx34cmx49cm, hiệu Gubback, màu đỏ, đen đang trong tình trạng bị đụt phá không còn nguyên vẹn; 01 (một) mặt dây chuyền hình tròn hoạ tiết chữ tiếng tàu bằng kim loại vàng 16,1 karat trọng lượng 0,095 chỉ; 01 (một) mặt dây chuyền hình cây súng bằng kim loại vàng 15,5 karat trọng lượng 0,26 chỉ; 01 (một) một bộ khoen dây chuyền bằng kim loại vàng 17,14 karat trọng lượng 0,19 chỉ; 05 (năm) bao lì xì lộc bà màu đỏ xé ra bên trong không có tài sản gì nên bỏ lại; 01 (một) cái túi màu hồng đỏ bên trong có 01 (một) cardvisit đề chữ Bệnh viện tai mũi họng Cần Thơ, bác sỹ Hà Nam A; 01(một) thẻ Gold Card của Cát Tiên S2 dành cho khách hàng thân thiết; C để hết giấy tờ ra ngoài rồi lấy cái túi màu hồng đỏ. Ngoài ra, C còn lấy được hai sấp tiền đô la M gồm các mệnh giá từ 01 đô la đến 05 đô la đã gấp lại (không rõ là bao nhiêu) bỏ vào trong túi quần, N1 lấy một cái đồng hồ trộm được lúc quay lại trộm két sắt đưa cho C để bán. C đưa cho N1 ba cái mặt dây chuyền bằng vàng. Sau đó, cả hai bỏ lại cái két sắt tại nhà bà H rồi đi về nhà. N1 cho ông Vũ Quang T1 (anh ruột của N1) 03 (ba) cái mặt dây chuyền bằng vàng và bán cho T1 01 điện thoại Iphone 6s với giá 400.000 đồng, còn các tài sản khác C mang về nhà trọ cất giấu. Khi về đến nhà trọ C kiểm tra phát hiện rớt mất sắp tiền đô la Mỹ, C mang chiếc đồng hồ mà N1 đưa đi bán được 1.100.000 đồng. C chia cho N1 500.000 đồng, giữ lại 600.000 đồng.

Đến ngày 20 tháng 7 năm 2023, bà Trần Thị Thanh X phát hiện bị mất trộm tài sản nên trình báo Công an. Sau khi tiếp nhận tin báo, C3 vụ việc cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T phối hợp với Viện kiểm sát tiến hành khám nghiệm hiện trường.

Quá trình xác minh tin báo, Cơ quan cảnh sát điều tra truy xuất camera và mời Nguyễn Minh C, Vũ Quang N1 và những người có liên quan làm việc; C và N1 thừa nhận hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp các đồ vật, tài liệu cụ thể như sau:

+ Nguyễn Minh C:

- 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu SUNRISE, số loại FM602FWB, mặt đồng hồ tròn, bằng kim loại màu bạc, dây bằng kim loại màu bạc đã qua sử dụng.

- 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu ENICAR ULTRASONIC, mặt đồng hồ tròn màu xanh dương, dây da màu đen, đã qua sử dụng.

- 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu LUCERNE, số loại 14690, mặt đồng hồ bằng kim loại màu vàng, dây da màu nâu đã qua sử dụng.

- 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu OMEGA, mặt đồng hồ tròn, bằng kim loại màu vàng, dây bằng kim loại màu vàng, bạc, đã qua sử dụng.

- 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu BREITLING 1984, số loại AB0110, mặt đồng hồ bằng kim loại, dây da màu nâu, đã qua sử dụng.

- 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu BOSINI, số loại SR303S, mặt đồng hồ tròn bằng kim loại màu bạc, dây đồng hồ bằng kim loại màu bạc, vàng đã qua sử dụng.

- 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu MWATCH, số loại JDW136, mặt đồng hồ hình vuông bằng kim loại màu vàng, dây đồng hồ bằng kim loại màu vàng, bạc, đã sử dụng.

- 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu MICHAEL KORS, số loại MK7306, mặt đồng hồ hình tròn, nền màu đỏ, dây da màu đỏ, đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có hột màu đen.

- 01 (một) túi hình chữ nhật màu đỏ có chữ tiệm V2.

- 01 (một) túi hình chữ nhật màu đỏ có chữ tiệm V3.

- 01 (một) sợi dây chuổi hạt, số lượng 110 hạt chuổi bằng gỗ, qua sử dụng.

- 01 (một) một chiếc vòng tay ngà voi hình tròn đường kính 5,7cm, bề bảng rộng 05mm, màu trắng đã bị gãy, đã qua sử dụng.

- 01 (một) viên đá hình tròn đường kính 2,8cm, bề dày 05mm, màu xanh lá, có đục lổ tròn ở giữa, đã qua sử dụng.

- 01 (một) viên đá hình con tỳ hưu kích thước 02cmx01cmx01cm, màu xám đen đã qua sử dụng.

- 01 (một) viên đá hình con tỳ hưu kích thước 02cmx01cmx0,5cm, màu xanh lá đã qua sử dụng.

- 01 (một) viên đá hình phật kích thước 02cmx02cmx0,5cm, màu nâu đen đã qua sử dụng.

- 01 (một) túi xách màu đỏ hồng.

- 01 (một) cây kiếm bằng gỗ dài 101cm, màu nâu; lưỡi kiếm bằng gỗ dài 68cm, cán cầm bằng gỗ 28cm, Vỏ kiếm bằng gỗ dài 72cm, màu nâu, đã qua sử dụng, loại gỗ gỏ mật.

+ Vũ Quang T1 tự nguyện nộp:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE số loại 6S màu vàng hồng 64GB đã qua sử dụng

- 01 (một) mặt dây chuyền hình tròn hoạ tiết chữ tiếng tàu bằng kim loại vàng 16,1 karat trọng lượng 0,095 chỉ.

- 01 (một) mặt dây chuyền hình cây súng bằng kim loại vàng 15,5 karat trọng lượng 0,26 chỉ.

- 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại vàng, có gắn viên đá, có gắn khoen 17,14 karat trọng lượng 0,19 chỉ .

+ Bà Nguyễn Thị Quỳnh N2 (bạn gái của Nguyễn Minh C) tự nguyện nộp:

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda số loại Vision màu trắng gắn biển số 67M1-591.46.

- 01(một) nón bảo hiểm màu đen đã qua sử dụng.

- 01 (một) áo khoác vải màu đen có cổ, đã qua sử dụng.

+ Thu giữ tại nhà bà Lương Thị H

- 01 (một) két sắt kích thước khoảng 40cmx34cmx49cm, hiệu Gubback, màu đỏ, đen đang trong tình trạng bị đụt phá không còn nguyên vẹn.

- 01 (một) cái váy đầm dáng trẻ em, sọc ô vuông màu vàng đen, trắng;

- 05 (năm) bao lì xì lộc bà màu đỏ, rỗng ruột, tình trạng bị ẩm ướt, rách, hỏng;

- 01 (một) cardvisit đề chữ Bệnh viện T4 mũi họng thành phố Cần Thơ, bác sỹ Hà Nam A;

- 01 (một) thẻ Gold Card của Cát Tiên S2 dành cho khách hàng thân thiết;

- 01 (một) khung kim loại hình chữ nhật, có bao nilông màu vàng bao quanh, hoạ tiết đầu vịt, tình trạng không còn nguyên vẹn.

- 01 (một) cái áo khoác vải sọc rằn màu xanh đen;

- 01 (một) đôi bao tay màu xanh biển;

- 01 (một) thân đèn cầy đã cháy tim đèn, màu đỏ;

- 01 (một) cây kéo sắt, cán kéo được bao nhựa màu đen, trong tình trạng rỉ sét, mũi kéo bị biến dạng;

- 01 (một) cây dao cán nhựa, lưỡi kim loại sắt, có đề dòng chữ KT-KNIFE, chiều dài 30cm;

- 01 (một) cây dao cán nhựa, lưỡi kim loại sắt, có đề dòng chữ Rotel, có chiều dài 29cm;

- 04 (bốn) viên pin tiểu cùng chủng loại, có đề dòng chữ Super maxell màu bạc, đỏ;

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 65/BKL– HĐĐGTS, ngày 28/07/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ kết luận:

- 01 (Một) đồng hồ nhãn hiệu SUNRISE, số loại FM602FWB, mặt đồng hồ tròn, bằng kim loại màu bạc, dây da màu đen, đã qua sử dụng, với giá trị là 500.000 đồng.

- 01 (Một) đồng hồ nhãn hiệu ENICAR UL TRASONIC, đồng hồ tròn màu xanh dương, dây da màu đen, đã qua sử dụng, với giá trị là 1.500.000 đồng.

- 01 (Một) đồng hồ nhãn hiệu Luceme, số loại 14690, mặt đồng hồ bằng kim loại màu vàng, dây da màu nâu, đã qua sửdụng, với giá trị là 1.000.000 đồng.

- 01 (Một) đồng hồ nhãn hiệu OMEGA, mặt đồng hồ tròn, bằng kim loại màu vàng, dây bằng kim loại vàng, bạc, đã qua sử dụng, với giá trị là 1.000.000 đồng.

- 01 (Một) đồng hồ nhãn hiệu BREITLING 1984, số loại AB0110, mặt đồng hồ bằng kim loại, dây da màu nâu, đã qua sử dụng, với giá trị là 2.000.000 đồng.

- 01 (Một) đồng hồ nhãn hiệu BOSINI, số loại SR303S, mặt đồng hồ tròn bằng kim loại màu bạc, dây đồng hồ bằng kim loại màu bạc, vàng, đã qua sử dụng, với giá trị là 500.000 đồng.

- 01 (Một) đồng hồ nhãn hiệu Mwatch, số loại JDW136, mặt đồng hồ hình vuông bằng kim loại màu vàng, dây đồng hồ bằng kim loại màu vàng, bạc, đã qua sử dụng, với giá trị là 300.000 đồng.

- 01 (Một) đồng hồ nhãn hiệu MICHAEL KORS, số loại MK7306, mặt đồng hồ hình tròn, nền màu đỏ, dây da màu đỏ, đã qua sử dụng, 300.000 đồng.

- 01 (Một) cây kiếm bằng gỗ dài 101cm, màu nâu; lưỡi kiếm bằng gỗ dài 68cm, cán cầm gỗ 28cm, vỏ kiếm bằng gỗ dài 72cm, màu nâu, loại gỗ gỏ mật và chi phí gia công cây kiếm đã qua sử dụng, với giá trị là 2.300.000 đồng.

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE số loại 6S màu vàng hồng 64GB, đã qua sử dụng, với giá trị là 1.000.000 đồng.

- 01 (Một) két sắt kích thước khoảng 40cmx34cmx49cm, hiệu Gubback, màu đỏ, đen đang trong tình trạng bị đục phá không còn nguyên vẹn, với giá trị là 3.200.000 đồng.

- 01 (Một) mặt dây chuyền hình tròn họa tiết chữ tiếng hoa bằng kim loại vàng 16,1 karat trọng lượng 0,095 chỉ, với giá trị là 350.000 đồng.

- 01 (Một) mặt dây chuyền hình cây súng bằng kim loại vàng 15,5 karat trọng lượng 0,26 chỉ, với giá trị là 950.000 đồng.

- 01 (Một) một bộ khoen dây chuyền bằng kim loại vàng 17,14 karat trọng lượng 0,19 chỉ, với giá trị là 690.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản 15.590.000 đồng (Mười lăm triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 78/BKL – HĐĐGTS, ngày 16/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ kết luận:

 01 (Một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có hột màu đen có giá trị là

100.000 đồng.

 01 (Một) sợi dây chuỗi hạt, số lượng 110 hạt chuỗi bằng gỗ, đã qua sử

dụng có giá trị là 100.000 đồng.

 01 (Một) chiếc vòng tay hình tròn đường kính 5,7cm, bề bảng rộng

05mm, màu trắng đã bị gãy, đã qua sử dụng có giá trị là 200.000 đồng.

 01 (Một) viên đá hình tròn đường kính 2,8cm, bề dày 05mm, màu trắng,

xanh lá, có đục lổ tròn ở giữa, đã qua sử dụng có giá trị là 100.000 đồng.

 01 (Một) viên đá hình con tỳ hưu kích thước 02cmx01cmx01cm, màu

xám đen, đã qua sử dụng có giá trị là 100.000 đồng.

 01 (Một) viên đá hình con tỳ hưu kích thước 02cmx01cmx0,5cm, màu

xanh lá, đã qua sử dụng có giá trị là 100.000 đồng.

 01 (Một) viên đá hình phật kích thước 02cmx02cmx0,5cm, màu nâu đen,

đã qua sử dụng có giá trị là 100.000 đồng.

 01 (Một) túi xách màu đỏ hồng có giá trị là 50.000 đồng.

 01 (một) cái váy đầm dáng trẻ em, sọc ô vuông màu vàng đen, trắng có

giá trị là 50.000 đồng.

 01 (một) khung kim loại hình chữ nhật, có bao ni lông màu vàng bao

quanh, hoạ tiết đầu vịt, tình trạng không còn nguyên vẹn có giá trị 50.000

đồng.

Tổng giá trị tài sản là 950.000 đồng (chín trăm năm mươi ngàn đồng).

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 16.540.000 đồng (mười sáu triệu năm trăm bốn mươi ngàn đồng).

Quá trình điều tra, Nguyễn Minh C, Vũ Quang N1 thành khẩn khai báo, lời khai phù hợp với những chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Bà Nguyễn Thị Quỳnh N2 nộp số tiền 1.100.000 đồng tiền thu lợi bất chính của Vũ Quang N1 và Nguyễn Minh C.

* Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản bị chiếm đoạt cho chủ sỡ hữu bà Trần Thị Thanh X, ông Trần Nhật Q; Trả lại xe mô tô biển kiểm soát 67M1-59146 cho bà Nguyễn Thị Quỳnh N2 do không liên quan đến việc phạm tội.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị Thanh X, ông Trần Nhật Q đã nhận lại các tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Minh Chiến về tội “ Trộm cắp tài sản ” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Vũ Quang N1 về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm. Các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình, do các bị cáo cần tiền tiêu xài nên đã có hành vi trộm cắp tài sản của bị hại, nay xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm về đoàn tựu chăm lo cho gia đình, các bị cáo cam kết không tái phạm.

Người bị hại bà Trần Thị Thanh X, ông Trần Nhật Q xin xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Quỳnh N2 vẫn giử nguyên ý kiến như trong quá trình điều tra, không trình bày gì thêm.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm; đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở đó đề nghị:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh C, Vũ Quang N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[1] Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ vào điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều Điều 52, Điều 58, điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.

Căn cứ vào điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Vũ Quang N1 từ 01 năm đến 02 năm tù.

- Về hình phạt bổ sung: Miễn cho các bị cáo [2] Về trách nhiệm dân sự: Công nhận người bị hại Trần Thị Thanh X, ông Trần Nhật Q đã nhận lại các tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm màu đen đã qua sử dụng; 01 cái áo khoác vải màu đen có cổ, đã qua sử dụng; 01 cái áo khoác vải sọc rằn màu xanh đen; 01 đôi bao tay màu xanh biển; 01 thân đèn cầy đã cháy tim đen, màu đỏ; 01 cây kéo sắt, cán kéo được bao nhựa màu đen, trong tình trạng rỉ sét, mũi kéo bị biến dạng; 01 cây dao cán nhựa, lưỡi kim loại sắt, đề dòng chữ KT –KNIFE, có chiều dài 30cm; 01 cây dao cán nhựa, lưỡi kim loại sắt, đề dòng chữ Rotel, có chiều dài 30cm; 04 viên pin tiểu cùng loại có dòng chữ Super Maxell màu bạc, đỏ do liên quan đến việc phạm tội và không có giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Số tiền thu lợi bất chính 1.100.000 đồng do bà Nguyễn Thị Quỳnh N2 nộp thay cho các bị cáo. [4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và xét xử, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người bị hại, một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt. Xét trong điều tra đã thu thập được lời khai của những người này, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai tại phiên tòa. Do đó, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi, chứng cứ xác định phạm tội: Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ ngày 15/7/2023, bị cáo Vũ Quang N1 rủ bị cáo Nguyễn Minh C kiếm tài sản để trộm và C đồng ý. Bị cáo C chuẩn bị 01 kiềm thủy lực hàng bãi nhật, 01 cây tua vít đầu dẹp để làm công cụ cạy, cắt cửa, cắt khóa. Sau đó, đến khoảng 00 giờ ngày 16/7/2023, bị cáo C rủ thêm em Bùi Thanh S1 đi trộm cắp tài sản của người khác và S1 đồng ý. Đến khoảng 02 giờ ngày 16/07/2023, bị cáo C điều khiển xe môtô Vision màu đen không rõ biển kiểm soát chở em S1 và bị cáo N1 để kiếm tài sản trộm.

Khoảng 03 giờ cùng ngày, các bị cáo phát hiện nhà bị hại bà Trần Thị Thanh X, ông Trần Nhật Q thuộc khu vực T, phường T có khoá ngoài nên nảy sinh ý định trộm, bị cáo C mang một cây kiềm thủy lực, một cây tua vít đầu dẹp đi qua phía căn nhà bị hại để cắt khoá đột nhập vào trong nhà, bị cáo N1 và em S1 ngồi bên ngoài cảnh giới, C leo qua hàng rào dùng kiềm thuỷ lực cắt đứt ổ khoá, tiếp tục dùng tua vít đầu dẹp cạy ổ khoá cửa đột nhập vào trong nhà bị hại. Khi vào bên trong nhà, C lấy trộm các tài sản để trong phòng khách, phòng ngủ của nhà bị hại với tổng trị giá tài sản 15.590.000đồng được thể hiện tại Bản kết luận định giá tài sản số 65/ BKL – HĐĐGTS, ngày 28/07/2023 của Hội đồng định giá tài sản của Ủy ban nhân dân quận T và các bị cáo mang các tài sản trộm được về nhà cất giấu.

Sau đó, bị cáo C nhớ lại lúc trộm tài sản thì thấy nhà bị hại có két sắt nên rủ bị cáo N1 quay lại tiếp tục trộm tài sản, đến khoảng 05 giờ 15 phút cùng ngày, bị cáo C chở bị cáo N1 quay trở lại nhà bị hại để lấy trộm két sắt xong và tiến hành cạy phá két sắt lấy các tài sản trong két sắt có tổng trị giá 950.000 đồng được thể hiện tại Bản kết luận định giá tài sản số 78/BKL – HĐĐGTS, ngày 16/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận T. Đến ngày 20/7/2023, bị hại phát hiện bị mất trộm tài sản nên trình báo Công an và các bị cáo bị bắt giữ và thừa nhận hành vi phạm tội.

Hành vi của bị cáo C thực hiện trong khi bản thân có 03 tiền án chưa xóa án tích mà tiếp tục phạm tội thuộc trường T5 và đủ yếu tố cấu thành tội“ Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo N1 thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội

“ Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét thấy hành vi của các bị cáo thực hiện rất nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương và đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, các bị cáo đã lợi dụng sự thiếu cảnh giác của bị hại, lén lút thực hiện hành vi lấy cắp tài sản của bị hại. Trong vụ án có hai bị cáo tham gia nhưng không có phân công, phân nhiệm cụ thể nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau phối hợp thực hiện trộm cắp tài sản nên vai trò phạm tội ngang nhau. Mặt khác, các bị cáo đều có nhân thân xấu, liên tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ở nhiều địa phương khác nhau, đã bị t xử phạt và chấp hành án nhiều năm nhưng bản tính vẫn không thay đổi, từ đó, cho thấy ý thức tự sửa đổi của các bị cáo là rất kém và xem thường pháp luật nên cần phải xử lý các bị cáo với mức án nghiêm minh tương xứng để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Bị cáo N1 phạm tội trong khi bản thân bị cáo chưa xóa án tích mà tiếp tục vi phạm nên thuộc trường hợp tái phạm và phải gánh chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo C khi phạm tội trộm cắp tài sản có hành vi rủ rê, xúi giục em Bùi Thanh S1 là người chưa thành niên cùng phạm tội trộm cắp tài sản nên bị cáo C phải gánh chịu gánh chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên giảm một phần hình phạt cho các bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình là phù hợp.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng”. Do hiện nay các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên thống nhất đề nghị của Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp nên hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Các vấn đề khác: Đối với Bùi Thanh S1 do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành chính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra,Công an quận T không xem xét xử lý là phù hợp. Đối với bà Lương Thị H do không biết các bị cáo Nguyễn Minh C và Vũ Quang N1 dùng nhà của H để cất giấu và đục két sắt nên không xem xét xử lý là phù hợp. Riêng ông Vũ Quang T1 do không biết 01 điện thoại Iphone 6s và 3 mặt dây chuyền vàng bị cáo N1 đưa là do các bị cáo phạm tội mà có nên không đề cập đến vấn đề xử lý là phù hợp.

[7] Về án phí hình sự: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định.

[8] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Minh C, Vũ Quang N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[1] Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ vào Điều 17, 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều Điều 52, Điều 58, điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/7/2023.

Căn cứ vào Điều 17, 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Vũ Quang N1 01 (Một) năm 06 (S3) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/7/2023.

Về hình phạt bổ sung: Miễn cho các bị cáo [2] Về trách nhiệm dân sự: Công nhận người bị hại Trần Thị Thanh X, ông Trần Nhật Q đã nhận lại các tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm màu đen đã qua sử dụng; 01 cái áo khoác vải màu đen có cổ, đã qu sử dụng; 01 cái áo khoác vải sọc rằn màu xanh đen; 01 đôi bao tay màu xanh biển; 01 thân đèn cầy đã cháy tim đen, màu đỏ; 01 cây kéo sắt, cán kéo được bao nhựa màu đen, trong tình trạng rỉ sét, mũi kéo bị biến dạng; 01 cây dao cán nhựa, lưỡi kim loại sắt, đề dòng chữ KT –KNIFE, có chiều dài 30 cm; 01 cây dao cán nhựa, lưỡi kim loại sắt đề dòng chữ Rotel, có chiều dài 30cm; 04 viên pin tiểu cùng loại có dòng chữ SuperMaxell màu bạc, đỏ.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 1.100.000 đồng.

(Các tài sản nêu trên thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng tài sản giữa người giao Cơ quan cảnh sát điều tra thuộc Công an quận T với người nhận Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt lập ngày 16/01/2024 và Biên lai thu tiền số 000211, ngày 16/01/2024 )

[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Minh C, Vũ Quang N1 mỗi người phải nộp số tiền 200.000đồng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại, người người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định.

Cỡ chữ