- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Xuân H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luậ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân Hùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ QUANG TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HS - ST Ngày 13/3/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ QUANG - TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Thắng.
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Khanh và ông Tô Minh Hoài.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Song Hào - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Quang tham gia phiên tòa: Ông Phan Quốc Tài - Kiểm sát viên.
Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 13 tháng 3 năm 2024 tại hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST- HS ngày 28/3/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Xuân H; Tên gọi khác: Không, Sinh ngày: 15/7/1981. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chổ ở: Tổ dân phố X, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 05/12. Con ông Lê Hữu Đ, sinh năm 1938 và bà Thái Thị L, sinh năm 1938. Anh chị em ruột: Có 05 người; bị cáo là con thứ tư. Vợ: Lang Thị B, sinh năm 1982; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Con: Có 03 con (02 con ruột và 01 con nuôi, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2020).
- Tiền án: Không.
- Tiền sự: 01 tiền sự, cụ thể: Ngày 25/7/2017, bị Công an huyện Vũ Quang ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi mua dâm. Hiện bị cáo chưa nộp phạt.
- Nhân thân: Ngày 30/3/2020, bị Công an huyện Vũ Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau số tiền 750.000 đồng. Bị cáo đã nộp phạt vào ngày 01/4/2020.
Bị cáo Lê Xuân H bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/12/2023 cho đến nay, hiện có mặt tại địa phương.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Thanh M, sinh năm: 1985; Nghề nghiệp: Trợ giúp viên pháp lý. Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thuộc Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh. Địa chỉ: 103A, đường Phan Đình Phùng, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).
* Bị hại: Ông Lê Văn S; sinh năm: 1977; địa chỉ: Tổ dân phố Y, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt).
* Người làm chứng:
- Bà Lang Thị B, sinh năm: 1982; Địa chỉ: Tổ dân phố X, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).
- Ông Lê Minh Luật, sinh năm: 1988; Địa chỉ: Tổ dân phố Z, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).
- Anh Phạm Văn N, sinh năm: 1995; Địa chỉ: Tổ dân phố X, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
- Ông Phạm Ngọc T, sinh năm: 1966; Địa chỉ: Tổ dân phố Y, thị trấn V, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).
- Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm: 1981; Địa chỉ: Tổ dân phố Y, thị trấn Vũ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
- Ông Lê Ngọc Q, sinh năm: 1980; Địa chỉ: Tổ dân phố X, thị trấn V, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 08/11/2023, Lê Xuân H đến nhà anh Lê Văn S để mượn xe kéo tự chế về chở dê. Anh S hỏi H: “Cây ổi trong nhà hôm trước còn nữa không?” (vì trước đó H hứa cho anh S cây ổi). Hùng nói với anh S cây ổi đang còn, thì anh S nói: “Khi nào kéo dê về thì gọi để anh Sơn vào nhà đào cây ổi về”. H đồng ý rồi lấy xe kéo đi về. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày sau khi chở dê về xong, H gọi điện thoại cho anh S. Anh S nói với H ăn cơm xong sẽ đưa rượu qua nhà H cùng uống, rồi tiếp tục hỏi H: “Đã có mồi uống rượu chưa?”, H trả lời: “Ở nhà có thịt luộc rồi”. Sau khi gọi điện cho anh S xong, H nói với vợ là chị Lang Thị B đi luộc thịt và làm ấm nước chè để chờ anh S đến.
Đến khoảng 12 giờ cùng ngày thì anh S đến nhà Hùng ở tổ dân phố X, thị trấn V, đồng thời mang theo một chai rượu khoảng 500ml và một dây sữa cho con H. Sau đó H và anh S ngồi uống rượu. Trong lúc ngồi uống rượu, anh S gọi chị B lại cùng uống rượu. Chị B lại uống một vài chén rồi vào bếp nấu cơm. Cả hai uống được một lúc thì anh S nói mệt nên không uống nữa rồi ngồi nói chuyện một lúc thì lên giường đặt tại nhà bếp nằm ngủ. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, anh S ngủ dậy rồi tiếp tục cùng H đưa rượu ra uống tiếp. Cả hai uống rượu đến khoảng 15 giờ 15 phút, do mệt nên anh S nhờ H đưa về. Lúc này, H nói vợ đi đón con để H đưa anh S về. Khi chị B vừa đi thì giữa anh S và H xảy ra mâu thuẫn cãi vã về việc anh S nói H đừng làm khổ vợ con vì vợ của H là người dân tộc. Trong lúc nóng dận, anh S cầm chiếc cốc uống nước bằng thuỷ tinh để ở trên bàn ném về phía H nhưng không trúng, chiếc cốc trúng vào tường rơi vỡ. Thấy vậy, Hùng nói: “Tao mời mày đến nhà ăn uống đàng hoàng, mà mày quậy phải không, tao chém cho mày xem”. Anh Sơn tiếp tục cầm ca nhựa ném trúng vào phần bụng của Hùng nhưng vì ca nhựa nên không gây ra thương tích. Lúc này, H rất bực tức nên đi vào bếp lấy dao để dọa chém anh S thì anh S đuổi theo ôm H. Cả hai vật nhau ngã xuống nền nhà. Trong lúc vật nhau, H với tay lấy được con dao, loại dao phát rừng dài 55.6cm để ở trên dàn bếp rồi vùng dậy, trở lưng dao đánh về phía anh S trúng vào đầu và cánh tay khoảng 03 đến 04 cái và nói:“Mày về đi”. Anh S không chịu về mà tiếp tục đi theo H thì bị H dùng sống lưng của con dao phát đánh thêm 01 đến 02 cái vào người anh S rồi đẩy anh S đi ra ngoài. Lúc này là khoảng 15 giờ 30 phút. Khi Anh S đi ra sân thì bị vấp ngã trong tư thế nằm úp thì ngay lúc này, H tay phải cầm dao vừa đi đến, chém liên tiếp 04 nhát vào người anh S theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái (01 nhát trúng vào vùng đầu sau vành tai phải; 01 nhát trúng vào vùng mông trái; 01 nhát trúng vào giữa lưng; 01 nhát trúng vào cổ tay phải). Sau khi thấy máu anh S chảy ra nên H nói với anh S: “Mày cút về đi”. Anh S đứng dậy rồi đi ra trước cổng nhà ông Phạm Văn T cách nhà H khoảng 50m rồi nhờ người dân đưa lên Trung tâm y tế huyện V điều trị, còn H thì bỏ chiếc dao phát vừa chém anh S lên đống củi ở sân nhà rồi gọi điện báo Công an thị trấn V sự việc, sau đó đi lên Công an thị trấn V đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Anh Lê Văn S điều trị từ ngày 08/11/2023 đến ngày 20/11/2023 thì ra viện. Đến ngày 06/12/2023, anh Lê Văn S làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Xuân H.
Ngày 24/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích số 47 trưng cầu Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Nghệ An giám định tổn thương cơ thể đối với anh Lê Văn S.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 651/KLTTCT-TTPY ngày 24/11/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Nghệ An kết luận thương tích đối với ông Lê Văn S:
1. Các kết quả chính: Một số sẹo vết thương phần mềm tại các vị trí: Chẩm bên phải, giữa cột sống lưng, ngoài cổ tay bên phải và mông bên trái, không ảnh hưởng chức năng.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn S tại thời điểm giám định là 05%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác: Một sẹo vết thương chẩm bên phải là do vật sắc tác động gây nên, có chiều hướng từ bên phải sang bên trái. Một sẹo vết thương giữa cột sống lưng, là do vật sắc tác động gây nên, có chiều hướng từ trên xuống dưới. Một sẹo vết thương ngoài cổ tay bên phải là do vật sắc tác động gây nên, có chiều hướng từ bên phải sang bên trái. Một sẹo vết thương mông bên trái là do vật sắc tác động gây nên, có chiều hướng từ bên trái sang bên phải.
Bản Cáo trạng số 03/CT- VKS-VQ ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Quang truy tố bị cáo Lê Xuân H về tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm a Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Xuân H phạm tội “Cố ý gây thương tích”, áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 104; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Xuân H mức án từ 07 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
* Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại các chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật.
* Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc dao, loại dao phát, dài 55,6cm; loại dao một lưỡi, mũi cong, làm bằng kim loại, lưỡi dao dài 28cm, vị trí rộng nhất 4,4cm; cán gỗ hình trụ tròn dài 27,6cm, đường kính 3,6cm. 01 Chiếc dao, loại dao thái, dài 37cm; một lưỡi, mũi tù, lưỡi dao bằng kim loại, bị hoen ghỉ, dài 25cm, vị trí rộng nhất 5cm; cán dao bằng gỗ, dài 12cm, đường kính 3,5cm. 01 chiếc ca nhựa, màu trắng đục, hình trụ tròn, nắp màu hồng, có tay cầm, miệng ca rộng 17cm, đáy ca rộng 12cm, cao 22,5cm và nhiều mảnh vỡ thuỷ tinh, có nhiều kích thước khác nhau, có dòng chữ màu đỏ “ĐIỆN MÁY HẰNG OAI PLAZA”; mảnh vỡ lớn nhất có kích thước (8x6x0,5)cm; mảnh vỡ nhỏ nhất có kích thước (3,8x1,7x0,5)cm. (tất cả các vật chứng trên đều thu giữ tại nhà bị cáo Lê Xuân H).
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự, án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận tội danh như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Quang truy tố là đúng; đồng tình với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất có thể. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân, điều kiện phạm tội cũng như hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện theo ủy quyền của bị hại không có ý kiến gì tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vũ Quang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điểu tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa một số người làm chứng nhưng xét thấy họ đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ và việc vắng mặt của họ không làm cản trở việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định xét xử vụ án.
. Về hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Xuân Hùng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung vụ án và bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 08/11/2023, tại nhà Lê Xuân H ở tổ dân phố X, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh, do mâu thuẫn trong lúc uống rượu và bực tức vì việc anh Lê Văn S ở tổ dân phố Y, thị trấn V, huyện Vũ Quang dùng cốc và ấm nước ném vào mình nên Lê Xuân H đã dùng dao (loại dao phát) dài 55,6cm trở sống dao đánh vào người và trở dao chém 04 nhát vào người anh Lê Văn S làm anh S bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 05%. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật mà vẫn cố ý thực hiện, thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Quang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Xuân H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể quan trọng được pháp luật công nhận và bảo vệ đó là sức khỏe của công dân, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn thị trấn V nói riêng và huyện V nói chung.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo tuy không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng đang có một tiền sự: Ngày 25/7/2017, bị Công an huyện Vũ Quang ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi mua dâm, hiện bị cáo chưa nộp phạt, đồng thời là người có nhân thân xấu: Ngày 30/3/2020, bị Công an huyện Vũ Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau số tiền 750.000 đồng. Bị cáo đã nộp phạt vào ngày 01/4/2020. Điều đó thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật, không có ý thức ăn năn hối cải về những hành vi mà mình đã gây ra mà tiếp tục vi phạm pháp luật đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên cần phải lên một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cũng cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ cận nghè, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo Lê Xuân H bồi thường tổng số tiền 17.718.000 đồng bao gồm các chi phí liên quan đến điều trị, tổn thất tinh thần, thu nhập thực tế bị mất và chi phí liên quan khác. Bị cáo đồng ý bồi thường với số tiền mà bị hại yêu cầu. Xét yêu cầu của bị hại là phù hợp theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xét thấy các vật chứng gồm: 01 chiếc dao, loại dao phát, dài 55,6cm; loại dao một lưỡi, mũi cong, làm bằng kim loại, lưỡi dao dài 28cm, vị trí rộng nhất 4,4cm; cán gỗ hình trụ tròn dài 27,6cm, đường kính 3,6cm. 01 Chiếc dao, loại dao thái, dài 37cm; một lưỡi, mũi tù, lưỡi dao bằng kim loại, bị hoen ghỉ, dài 25cm, vị trí rộng nhất 5cm; cán dao bằng gỗ, dài 12cm, đường kính 3,5cm. 01 chiếc ca nhựa, màu trắng đục, hình trụ tròn, nắp màu hồng, có tay cầm, miệng ca rộng 17cm, đáy ca rộng 12cm, cao 22,5cm và nhiều mảnh vỡ thuỷ tinh, có nhiều kích thước khác nhau, có dòng chữ màu đỏ “ĐIỆN MÁY HẰNG OAI PLAZA”; mảnh vỡ lớn nhất có kích thước (8x6x0,5)cm; mảnh vỡ nhỏ nhất có kích thước (3,8x1,7x0,5)cm không có giá trị sử dụng và tại phiên tòa bị cáo không đề nghị nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo và tại phiên tòa bị cáo có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Xuân Hùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm a Khoản 1 Điều 134; các Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Xuân H 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 584, Khoản 1 Điều 585, Khoản 1 Điều 586 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Lê Xuân H phải bồi thường cho bị hại số tiền 17.718.000 đồng (mười bảy triệu bảy trăm mười tám nghìn đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc dao, loại dao phát, dài 55,6cm; loại dao một lưỡi, mũi cong, làm bằng kim loại, lưỡi dao dài 28cm, vị trí rộng nhất 4,4cm; cán gỗ hình trụ tròn dài 27,6cm, đường kính 3,6cm. 01 Chiếc dao, loại dao thái, dài 37cm; một lưỡi, mũi tù, lưỡi dao bằng kim loại, bị hoen ghỉ, dài 25cm, vị trí rộng nhất 5cm; cán dao bằng gỗ, dài 12cm, đường kính 3,5cm. 01 chiếc ca nhựa, màu trắng đục, hình trụ tròn, nắp màu hồng, có tay cầm, miệng ca rộng 17cm, đáy ca rộng 12cm, cao 22,5cm và nhiều mảnh vỡ thuỷ tinh, có nhiều kích thước khác nhau, có dòng chữ màu đỏ “ĐIỆN MÁY HẰNG OAI PLAZA”; mảnh vỡ lớn nhất có kích thước (8x6x0,5)cm; mảnh vỡ nhỏ nhất có kích thước (3,8x1,7x0,5)cm.
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Xuân H do bị cáo là hộ cận nghèo và bị cáo có đơn đề nghị miễn án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 13/3/2024).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên thì người phải thì hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Vũ Quang; - Công an huyện Vũ Quang; - Chi cục THADS huyện Vũ Quang; - Bị cáo; Bị hại; Người bào chữa cho bị cáo; - Lưu: HS án; văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Việt Thắng |