- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Quang phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Qu phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P T TỈNH G L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày 22 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P T, TỈNH G L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Mạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Rmah Ét và bà Nguyễn Thị Huê
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang, thư ký Tòa án nhân dân huyện P T, tỉnh G L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P T, tỉnh G L tham gia phiên toà: Ông Ksor Yanh, Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện P T, tỉnh G L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/QĐXXST-HS ngày 14/12/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Qu, sinh năm 1984 tại huyện K M, tỉnh H D; Nơi cư trú: Thôn P R Đ, xã A H, huyện P T, tỉnh G L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và bà Đặng Thị B (Đã chết); có vợ là Rmah H’ Bi và 03 người con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2016; tiền sự: không; tiền án: 02 tiền án. Ngày 29/3/2018, bị Tòa án nhân dân Tp P, tỉnh G L, xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 22/6/2021, bị Tòa án nhân dân Tp P, tỉnh G L xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 23/02/2022, Nguyễn Văn Qu chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương (chưa được xóa án tích); Nhân thân: 11/5/2011 bị TAND huyện P T xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 13/2011/HSST ngày 23/11/2011, ngày 23/11/2011 chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích; Bị cáo bị bắt tạm giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 06/8/2023, tạm giam ngày 15/8/2023 đến nay. Có mặt.
- Bị hại:
1. Dương Thị Thu Th, sinh năm 1989
Trú tại: Thôn K P, xã C A T, huyện P T, tỉnh G L. Vắng mặt
2. B, sinh năm 2002
Trú tại: Làng B, xã N H, huyện C P, tỉnh G L. Vắng mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Tha, sinh năm 1976
Trú tại: Thôn 2, xã I N, huyện C P, tỉnh G L. Vắng mặt
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng:
1. Trần Cư, sinh năm 1996
Trú tại: Ấp 1, xã P N, huyện Đ Q, tỉnh Đ N. Vắng mặt
2. Siu Ứ, sinh năm 1967
Trú tại: Thôn R Đ, xã A H, huyện P T, tỉnh G L. Vắng mặt
3. Trần Thị Ái V (M), sinh năm 1982
Trú tại: Tổ dân phố 2, thị trấn P T, huyện P T, tỉnh G L. Vắng mặt
+ Người phiên dịch: Ông Rcom P, người dân tộc Jrai
Nơi cư trú: Tổ 1, thị trấn P T, huyện P T, tỉnh G L. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian từ tháng 7/2023 đến ngày 06/8/2023, Nguyễn Văn Qu đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện P T và tại địa bàn Tp P, tỉnh G L, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 05 giờ sáng ngày 22/7/2023, chị B (sinh năm 2002, trú tại làng B, xã N H, huyện C P, tỉnh G L) dựng xe mô tô 81B1-365.53 trước số nhà 134, đường H V T, tổ 2, phường D H, tp P, tỉnh G L. Sau đó, chị B đi vào chợ mua trái cây, lúc này Nguyễn Văn Qu đang ở chợ, phát hiện xe mô tô không có người trông coi nên Nguyễn Văn Qu nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nêu trên. Qu đi đến dùng chìa khóa mang theo cắm vào ổ điện thì mở được khóa xe trên. Qu điều khiển xe mô tô trộm cắp được chạy về huyện P T làm phương tiện đi lại. Đến ngày 06/8/2023, Nguyễn Văn Qu điều khiển mô tô đi trộm cắp tài sản tại tổ dân phố 3, thị trấn P T, huyện P T thì Cơ quan CSĐT Công an huyện P T bắt, thu giữ xe mô tô trên.
Vụ thứ hai: Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 06/8/2023, Nguyễn Văn Qu điều khiển xe mô tô BKS 81B1-365.53 lưu thông trên đường Quốc lộ 25 theo hướng huyện C S đi thị xã A P. Khi đi ngang qua cửa hàng Thế giới di động thuộc tổ dân phố 3. thị trấn P T, huyện P T, Qu thấy chị Dương Thị Thu Th đang xếp cá (loại cá lăng) bỏ vào 03 thùng xốp để ngay trước cửa hàng Thế giới di động. Sau đó, chị Th mang một ít cá đi vào chợ huyện P T giao cho khách, quan sát xung quanh không có người trông coi nên Qu nảy sinh ý định chiếm đoạt số cá trên, Qu đi đến dựng xe sát mép đường bên cạnh thùng xốp, Qu xuống xe bưng 01 thùng xốp lên xe rồi chở đi về nhà tại thôn P R Đ, xã A H, huyện P T, Qu đi vào nhà mình lấy 01 chiếc cân loại 5kg rồi điều khiển xe đi đến khu vực chợ ở ngã ba thị trấn C S, huyện C S và bán toàn bộ số cá trộm cắp được cho người dân qua đường (không rõ lai lịch, địa chỉ) với số tiền 770.000 đồng. Sau khi bán cá xong, Qu cột chiếc cân trên thùng xốp đi về, trên đường về chiếc cân bị rớt nhưng không xác định rớt ở đâu, còn thùng xốp Qu mang về nhà ông Siu Ư (bố vợ Qu, trú cùng thôn với Qu) đề tại khu vực nhà bếp.
Quá trình điều tra, xác minh: Ông Nguyễn Quốc Vi là người quản lý của Trung tâm thế giới di động tại tổ dân phố 03, thị trấn P T, huyện P T đã cung cấp dữ liệu điện tử cho Cơ quan điều tra, gồm: 01 đĩa DVD bên trong có 02 file (tập) dữ liệu, trong đó 01 file được ký hiệu WinRARZip archive (zip) có dung lượng 1,66MB (1.740.942bytes); 01 file được ký hiệu 11132 –TGD –GLA – PTH – phu thien1 –ch1-20230806062228- 20230806062841 có dung lượng 46,8MB (49.176.117 bytes) để phục vụ công tác điều tra.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 08/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P T, xác định: 26,5kg con cá lăng vàng đã chết được ướp đá, trị giá 4.505.000 đồng và 01 (Một) chiếc thùng xốp kích thước (60 x 45 x 38)cm, trị giá 45.000 đồng. Tổng cộng 4.550.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 181/KL-HĐĐGTS ngày 24/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Tp P, xác định: 01 (Một) xe mô tô BKS 81B1 - 365.53, mua lại cuối năm 2018, sử dụng đến ngày 22/7/2023 bị chiếm đoạt. Gía trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 8.000.000 đồng.
* Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (Một) xe mô tô BKS 81B1-365.53; 01 (Một) thùng xốp; 01 (Một) quần dài màu xanh rêu, có chiều dài 86cm, rộng 40cm, trên lưng quần ghi size 29, made china; 01 (Một) áo khoác màu đen có mũ nối liền, có chiều dài 90cm, rộng 48cm trên áo có ghi size XL, made Việt Nam và 01 (Một) mũ bảo hiểm màu trắng, xanh, có kính nhựa bảo vệ phía trước, trên mũ có ghi dòng chữ “Phúc Tuấn Kiệt”, thu giữ trong người của Nguyễn Văn Qu số tiền 1.515.000 đồng. Quá trình điều tra, xét thấy việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản gồm: Tiền mặt 1.515.000 đồng; 01 (Một) quần dài màu xanh rêu, có chiều dài 86cm, rộng 40cm, trên lưng quần ghi size 29, made china; 01 (Một) áo khoác màu đen có mũ nối liền, có chiều dài 90cm, rộng 48cm trên áo có ghi size XL, made việt nam; 01 (Một) mũ bảo hiểm màu trắng, xanh, có kính nhựa bảo vệ phía trước, trên mũ có ghi dòng chữ “Phúc Tuấn Kiệt” cho bị can Nguyễn Văn Qu; trả lại cho chị Dương Thị Thu Th 01 (Một) thùng xốp; trả lại cho chị B 01 (Một) xe mô tô BKS 81B1 – 365.53 là những chủ sở hữu hợp pháp, nên không đề cập đến.
Đối với 01(Một) chiếc cân loại 05kg mà bị can Nguyễn Văn Qu dùng để cân cá bán vào ngày 06/8/2023, xác định là tài sản của bị can Nguyễn Văn Qu. Sau khi bán cá xong, Nguyễn Văn Qu cột cân trên thùng xốp, trên đường về cân bị rớt đường nhưng không xác định bị rớt ở đâu nên không thu giữ được nên không đề cập đến.
* Về dân sự: Quá trình điều tra, chị Dương Thị Thu Th yêu cầu Nguyễn Văn Qu bồi thường số tiền 4.500. 000 đồng. Bị can Nguyễn Văn Qu tác động gia đình bồi thường xong cho chị Th số tiền 4.500.000 đồng. Chị Th đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm. Chị B đã nhân lại tài sản (xe mô tô) và không yêu cầu bồi thường nên không đề cập đến.
Tại bản cáo trạng số: 31/CT-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P T, tỉnh G L đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Qu về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P T, tỉnh G L giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Qu; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Qu từ 03 năm đến 04 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu bồi thường gì thêm; nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Vật chứng đã được giải quyết trong quá trình điều tra, đúng theo quy định pháp luật; đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí sung vào công quỹ nhà nước.
Ý kiến của bị cáo: Thống nhất với tội danh, điều, khoản và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng vụ án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về tố tụng:
Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa, lời khai của họ có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện đầy đủ, Tòa án căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với những chứng cứ, tài liệu thu thập được có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Với mục đính trộm cắp xe mô tô, nên sáng ngày 22/7/2023 Nguyễn Văn Qu đã chuẩn bị khóa xe, đón xe từ huyện P T lên khu vực chợ đêm của thành phố P, tỉnh G L đi lang thang, tìm xem có ai để tài sản sơ sở thì trộm cắp. Khoảng 06 giờ sáng ngày 22/7/2023, khi phát hiện 01 xe mô tô loại Sirius ở khu vực phường D H, tp P, tỉnh G L không có người trông coi, Qu đã dùng chìa khóa mang theo người, lén lút chiếm đoạt.
Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 06/8/2023, khi điều khiển xe mô tô đã chiếm đoạt trước đó, thấy chị Dương Thị Thu Th đang xếp cá bỏ vào 03 thùng xốp trước cửa hàng Thế giới di động thuộc tổ dân phố 3, thị trấn P T; sau khi chị Th mang một ít cá vào chợ để giao cho khách; thấy không có người trông coi, nên Qu lén lút chiếm đoạt 01 thùng xốp đựng 26,5 kg cá lăng.
Mặc dù, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 12.550.000 đồng; nhưng bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện P T, tỉnh G L đã truy tố là đúng người, đúng tội.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật; xâm phạm đến trật tự trị an xã hội ở địa phương. Bị cáo đã từng bị xét xử nhiều lần về nhiều tội đã phạm, nhưng không lấy đó làm bài học, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội; mà vẫn tiếp tục phạm tội; thể hiện sự coi thường pháp luật; Do đó, cần xử phạt tù bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, mới đạt được mục đích giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn Qu 02 lần thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” mà mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; đã được chị gái tự nguyện cho tiền để bồi thường cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về những chứng cứ buộc tội, tội danh, điều, khoản áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với kết quả Nghị án của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều, khoản, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên hội đồng xét xử xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án: Đã được giải quyết trong quá trình điều tra, đúng theo quy định pháp luật; nay không có ai yêu cầu gì thêm, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Qu phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Qu 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ người trong trường hợp khẩn cấp (ngày 06 tháng 8 năm 2023).
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Qu phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được yết; lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - VKSND huyện P T; - VKSND tỉnh G L; - Công an huyện P T; - Chi Cục THS DS huyện P T; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Dương Đình Mạnh |