- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Ph - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Ph phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày 19 tháng 01 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoàng và ông Châu Tấn Lập.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Vào các ngày 16 và 19 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:
TRẦN THANH PH, sinh ngày 10/11/1991 tại tỉnh Đăk Lăk; nơi đăng ký thường trú: Thôn 6, xã R, huyện E, tỉnh Đăk Lăk; số CCCD: 066091022570; giới tính: nam; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ph, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957; chưa có vợ, con;
Nhân thân: Tại bản án số 71/2009/HSST ngày 22/6/2009, bị TAND huyện Ea H’Leo, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã xóa án tích.
Tiền án: Có 02 tiền án. Tại bản án phúc thẩm số 154/2010/HSPT ngày 18/01/2010 của Tòa phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng xử phạt xử phạt 14 năm tù về tội “Giết người”, tổng hợp hình phạt với bản án số 71/2009/HSST ngày 22/6/2009 của TAND huyện Ea H’Leo, tỉnh Đăk Lăk, hình phạt chung là 15 năm tù. Tại bản án số 67/2010/HSST ngày 30/8/2010, bị TAND huyện Ea H’Leo, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của 03 bản án, bị cáo phải chấp hành là 18 năm tù, đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 05/10/2022.
Tiền sự: Không;
Bị tạm giữ, tạm giam từ 17/8/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị hại: Bà La Thị Ngọc Á, sinh năm 2002; nơi thường trú: Thôn G, xã P, huyện N, tỉnh Đăk Lăk; nơi ở hiện tại: Số 49 đường T, phường K, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1992; nơi thường trú: T2, L, thành phố N, tỉnh Thái Nguyên; nơi ở hiện tại: Số 290, đường T, tổ 12, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt (vắng mặt sau khi tạm ngừng phiên tòa).
Bà Nguyễn Thị Bích Ph, sinh năm 1994; địa chỉ: Số 238 đường Ph, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Ông Trần Hữu M, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ 2, phường Nh, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh Ph và bà La Thị Ngọc Á (tên thường gọi là Nhi) chỗ ở làng Br, xã D, huyện Ia Grai, có quan hệ bạn bè với nhau. Vào tháng 8 năm 2023 Ph biết bà Á đi công việc xa, nhà khóa cửa không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Ph đã 02 lần trộm cắp tài sản tại nhà bà Á, như sau:
- Lần thứ nhất: Vào ngày 12/8/2023, Ph đi đến nhà bà Á thì thấy nhà vẫn khóa cửa nên biết bà Á chưa về vì vậy Ph đi đến đường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai thuê xe tải do ông Trần Hữu M là tài xế rồi dẫn ông M đến nhà bà Á. Vì trước đó đã ở cùng nhà với bà Á nên Ph biết cách mở cửa nhà, Ph vào nhà lấy các tài sản gồm: 01 tủ lạnh (tủ đông) hiệu Sanaky, màu trắng, 01 bếp từ hiệu Kangaroo, màu đen, 01 màn hình máy tính hiệu Dell, màu đen, 01 bộ tay cầm chơi game hiệu PS2, màu đen, 01 máy nóng lạnh hiệu Ariston, màu trắng rồi nói ông M chở đến tiệm thu mua đồ cũ tại 283 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku. Tại đây Ph bán số tài sản trên cho bà Nguyễn Thị Bích Ph (chủ tiệm) được số tiền 4.000.000 đồng. Số tiền này Ph đã trả tiền thuê xe 300.000 đồng, còn lại Ph tiêu xài hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 11/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ia Grai, kết luận: 01 tủ đông hiệu Sanaky, màu trắng dung tích 305L đã qua sử dụng vào ngày 12/8/2023 có giá 3.500.000 đồng; 01 bếp từ hiệu Kangaroo, màu đen đã qua sử dụng vào ngày 12/8/2023 có giá 1.670.000 đồng; 01 màn hình máy tính hiệu Dell E2016HV 19,5inch, màu đen đã qua sử dụng vào ngày 12/8/2023 có giá 1.000.000 đồng; 01 bộ tay cầm chơi game hiệu PS2, màu đen đã qua sử dụng vào ngày 12/8/2023 có giá 500.000 đồng; 01 máy nóng lạnh hiệu Ariston, màu trắng đã qua sử dụng, vào ngày 12/8/2023 có giá 2.750.000 đồng.
Tổng giá trị là 9.420.000 (chín triệu bốn trăm hai mươi nghìn) đồng.
- Lần thứ 2: Đến ngày 16/8/2023, Ph tiếp tục đi đến nhà bà Á thì thấy bà Á vẫn chưa về, vì thế Ph tiếp tục đi đến đường Ph, thành phố P thuê xe ô tô tải của ông Trần Hữu M rồi đi đến nhà bà Á. Ph vào nhà mở cửa phòng ngủ của bà Á nhưng không được nên Ph đã lấy 01 cục gạch, kích thước (20x9x6)cm đập vỡ kính cửa rồi thò tay vào mở chốt cửa, vào phòng lấy các tài sản gồm: 01 ti vi nhãn hiệu Casper 43 inch, màu đen; 01 tủ lạnh nhãn hiệu Beko, màu xám; 01 bộ bàn ghế Sopha màu xám-đen; 01 giường gỗ kích thước 1m6 x2m, màu nâu; 01 máy nóng lạnh hiệu Ariston, màu trắng. Sau đó Ph nói ông M chở đến cửa hàng đồ cũ tại tổ 12, phường Yên Đỗ, thành phố Pleiku bán cho ông Nguyễn Văn L (chủ tiệm) 1 bộ bàn ghế sô pha, 01 ti vi 43 inch, 01 tủ lạnh mini được số tiền 4.300.000 (bốn triệu ba trăm nghìn) đồng. Còn chiếc giường Ph bán cho ông Trần Hữu M được số tiền 800.000 (tám trăm nghìn) đồng. Số tiền có được Ph trả tiền thuê xe 400.000 đồng, số tiền còn lại Ph đã tiêu xài hết.
Đến khoảng 08 giờ ngày 17/8/2023, bà Á đi công việc về thì phát hiện sự việc nên trình báo Cơ quan Công an. Qua làm việc ông Nguyễn Văn L đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra: 01 ti vi nhãn hiệu Casper 43 inch, màu đen, đã qua sử dụng và 01 tủ lạnh nhãn hiệu Beko, màu xám đã qua sử dụng. Khám nghiệm hiện trường thu giữ 01 cục gạch, kích thước (20x9x6)cm, màu nâu.
Tại Kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 22/8/2023 và số 42/KL-HĐĐGTS ngày 11/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ia Grai, kết luận: 01 ti vi nhãn hiệu Casper 43 inch, màu đen, đã qua sử dụng có giá trị là 6.000.000 đồng; 01 tủ lạnh nhãn hiệu Beko, màu xám đã qua sử dụng có giá 1.900.000 đồng; 01 bộ bàn ghế Sopha màu xám-đen đã qua sử dụng có giá 10.000.000 đồng, 01 máy nóng lạnh hiệu Ariston, màu trắng đã qua sử dụng có giá 2.750.000 đồng; 01 giường gỗ kích thước (1,6 x 2)m, màu nâu, đã qua sử dụng có giá 2.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản có giá 23.150.000 (hai mươi ba triệu một trăm mươi nghìn) đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS ngày 11/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ia Grai, kết luận: 01 kính cửa mờ kích thước 40cm x100cm x 0,4cm, đã qua sử dụng vào ngày 16/8/2023 có giá 193.000 (một trăm chín mươi ba nghìn) đồng.
Quá trình điều tra xác định ông Trần Hữu M khi vận chuyển tài sản cho Ph và mua tài sản do Ph bán thì Ph nói với ông M là chuyển nhà nên muốn bán đồ cũ vì vậy ông M không biết những tài sản trên là do Ph trộm cắp mà có, vì vậy Cơ quan điều tra không xem xét xử lý về hình sự đối với ông M. Quá trình điều tra ông M đã giao nộp chiếc giường mà anh đã mua của bị cáo Ph.
Đối với ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Bích Ph khi mua các tài sản do Ph bán thì ông L và chị Ph không biết tài sản này là do trộm cắp mà có. Ông L đã giao nộp lại 01 ti vi và 01 tủ lạnh đã mua của Ph nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm đối với ông L và chị Ph.
Đối với 01 ti vi nhãn hiệu Casper 43 inch, màu đen, đã qua sử dụng; 01 tủ lạnh nhãn hiệu Beko, màu xám đã qua sử dụng; 01 giường gỗ, màu nâu đã qua sử dụng do ông Nguyễn Văn L và ông Trần Hữu M giao nộp, Cơ quan điều tra xác định là tài sản của bà Á bị Ph chiếm đoạt nên đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự. Đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về dân sự: Ông Nguyễn Văn L và ông Trần Hữu M yêu cầu bị cáo Ph phải bồi thường lại số tiền mà ông M và ông L đã mua tài sản của Ph. Cụ thể ông L yêu cầu số tiền 3.600.000 đồng và ông M yêu cầu số tiền 800.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 01 tháng 12 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Trần Thanh Ph về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Diễn biến tranh tụng tại phiên tòa:
Bị cáo Trần Thanh Ph thừa nhận thực hiện hành vi phù hợp với Cáo trạng đã nêu, đồng ý về tội danh, điều luật bị truy tố, không có ý kiến kêu oan, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt; đồng ý bồi thường số tiền 3.600.000 đồng cho ông L và bồi thường số tiền 800.000 đồng cho ông M. Bị cáo xác định đã bồi thường cho bị hại La Thị Ngọc Á số tiền 10.200.000 đồng.
Người bị hại xác định những tài sản bị mất phù hợp với Cáo trạng đã nêu, đã được bị cáo bồi thường số tiền 10.200.000 đồng, không yêu cầu tiếp tục bồi thường.
Ông Nguyễn Văn L khai về việc mua tài sản do bị cáo bán phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu, yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 3.600.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo phạm “Tội trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, được bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 20 đến 26 tháng tù; tịch thu, tiêu hủy đối với công cụ phạm tội; bồi thường cho ông L số tiền 3.600.000 đồng, bồi thường cho ông M 800.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Ia Grai, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên tất cả đều hợp pháp và không có ý kiến khiếu nại.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh Ph khai nhận đã hai lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bà La Thị Ngọc Á, tại làng Br, xã D, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai phù hợp với Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và biên bản xác định hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu thu giữ có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở xác định hành vi mà cáo trạng đã truy tố là đúng với hành vi thực tế khách quan mà bị cáo đã thực hiện.
Xét bị cáo đã xâm phạm trái phép đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị 32.570.000 đồng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự nên đã phạm vào “Tội trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mỗi lần đều đủ cấu thành tội phạm nên phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo đã bị kết án 03 lần. Đối với lần kết án về tội trộm cắp tài sản đã được xóa án tích theo trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 Điều 107 của Bộ luật Hình sự. Đối với 02 lần xét xử về tội giết người, cướp tài sản, khi hành vi thực hiện chưa có bản án có hiệu lực nên không thuộc trường hợp xác định tái phạm đối với 02 hành vi này, tuy nhiên các lần phạm tội này chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị trừng trị về hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác và hành vi giết người nhưng vì muốn có tiền tiêu xài bất chính, cố ý tiếp tục phạm tội. Điều này thể hiện ý thức bất chấp pháp luật, không chịu tu dưỡng thành người tốt. Do đó, cần thiết phải xử lý trách nhiệm hình sự một cách nghiêm khắc bằng hình phạt tù nhằm trừng trị và giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, quy tắc tôn trọng tài sản của người khác và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, bồi thường thiệt hại, được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự
Bị hại đã nhận lại một phần tài sản, đã được bồi thường thiệt hại và không yêu cầu bị cáo bồi thường đối với phần tài sản bị thiệt hại còn lại.
Ông Nguyễn Văn L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 3.600.000 đồng và ông Trần Hữu M yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 800.000 đồng. Xét thấy yêu cầu của ông L và ông M là có căn cứ và bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông L và ông M.
Về vật chứng: Đối với viên gạch 02 lỗ là công cụ phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Ph phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh Ph 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2023.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 589 Bộ luật Dân sự;
Buộc bị cáo Trần Thanh Ph phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn L số tiền 3.600.000 (ba triệu sáu trăm nghìn) đồng.
Buộc bị cáo Trần Thanh Ph phải bồi thường cho ông Trần Hữu M số tiền 800.000 (tám trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Hình sự.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy đối với 01 (một) viên gạch 02 lỗ, kích thước (20 x 9 x 6) cm, màu nâu đất.
Vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ghi ngày 07/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ia Grai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Buộc bị cáo Trần Thanh Ph phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo và người tham gia tố tụng; - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Ia Grai; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Ia Grai; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện Ia Grai; - Chi cục THADS huyện Ia Grai; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên, đóng dấu) Nguyễn Văn Huy |