- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Tòn K - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Tòn K (tên gọi khác: Triệu Sành V) phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày: 05 - 02 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nông Văn Tôn
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thẩm Thanh Hải;
2. Bà Nguyễn Thị Huế;
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quyên - Kiểm sát viên
Trong ngày 05 tháng 2 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/ QĐXXST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Triệu Tòn K (tên gọi khác: Triệu Sành V), sinh ngày 18 tháng 02 năm 1998. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ hiện nay: Xóm C, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Quầy H, sinh năm 1972 và bà Xiêm Mùi P, sinh năm 1972; Vợ: Đặng Mùi P1, sinh năm 1990; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2020, con nhỏ nhất sinh năm 2022;
Tiền án: Bị cáo có 01 (Một) tiền án, bị Toà án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xét xử về tội cố ý làm hư hỏng tài sản theo Bản án số: 27/2016/HS – ST ngày 28/10/2016. Khé đã chấp hành xong hình phạt tù, về án phí hình sự sơ thẩm Khé chưa nộp, do vậy Khé chưa được xoá án tích.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/11/2023 tại nhà tạm giữ Công an huyện B, Cao Bằng cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Xiêm Mùi P2, sinh năm 1972; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm C, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Triệu Quầy H; sinh năm: 1972
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm C, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng (Có mặt)
- Đặng Mùi P1; sinh năm: 1990
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm C, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo:
Bà Nguyễn Thị Dạ T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. (Có mặt)
* Người phiên dịch: ông Phùng Tòn C
Nơi cư trú: Xóm B, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 01 giờ ngày 21/10/2023, Triệu Tòn K, sinh năm 1998, trú tại: C, H, B, Cao Bằng sau khi đã uống nhiều rượu, K đi vào buồng ngủ của ông Triệu Quầy H và bà Xiêm Mùi P (là bố, mẹ đẻ của K), lúc này cháu Triệu Minh H1, sinh năm 2022 là con đẻ của K cũng ngủ cùng ông H, bà P. Khé vào bế cháu H1 đi ra ngủ cùng K, biết K đã say rượu ông H và bà P không đồng ý, K liền chửi ông H, bà P, sau đó giữa hai bên có lời qua tiếng lại. Do bực tức K nói "Không cho con ngủ cùng, thì tao đưa con đi bán" đồng thời K đi đến chỗ chiếc thang làm bằng tre dựng ở góc nhà, K cầm chiếc thang ném về phía buồng ngủ của ông H, bà P khiến chiếc thang bị gãy, các nấc thang bị bung ra nằm rải rác trên sàn nhà. Khé nhặt một nấc thang bằng gỗ dài khoảng 40cm ở gần chân K, rồi xông vào buồng ngủ của ông H, bà P. Nghe tiếng động lớn ông H bế cháu H1, bà P cũng ngồi dậy thì bất ngờ K lao vào, tay phải dùng thanh gỗ đánh liên tiếp vào vùng trán, má trái và bả vai phải của bà P dẫn đến thương tích. Thấy vậy, ông H ra can ngăn thì bị K dùng thanh gỗ đánh trúng vào bàn tay phải bị sưng tím, lúc này ông H đang bế cháu H1 trên tay, cháu H1 cũng bị K đánh trúng vào dưới mang tai bên phải bị xước da và chảy rớm máu. Thấy K không có dấu hiệu dừng lại, ông H đã bế cháu H1 chạy ra ngoài, bà P chạy theo sau. Lúc này K cầm thanh gỗ đuổi theo, khi đến ngoài hiên nhà, lối đi xuống cầu thang nhà sàn thì bà P thấy và nhặt lấy 01 thanh củi dài khoảng 80cm để tự vệ, trong lúc giằng co bà P dùng hai tay cầm thanh củi đánh làm K ngã nằm xuống hiên sàn nhà. Sau đó bà P cùng ông H bế cháu H1 chạy đến nhà anh Hoàng Văn M, sinh năm 1993 là người cùng xóm để ngủ nhờ qua đêm. Còn Triệu Tòn K bị bà P dùng thanh củi đánh trúng vào mũi bị xước chảy máu, phần trên vùng trán gần chân tóc bị sưng nề. Lúc sau K dậy được và đi vào bếp hút thuốc lào, rồi tự lau vết thương sau đó đi ngủ. Khoảng 06 giờ sáng cùng ngày, ông H đưa bà P đến Trung tâm y tế huyện B để chữa trị vết thương, đến ngày 25/10/2023 ông H đến công an xã H tố giác Triệu Tòn K về hành vi cố ý gây thương tích cho bà P.
Sáng ngày 25/10/2023 Công an xã H, B tiếp nhận tin báo về tội phạm của ông Triệu Quầy H về việc bị Triệu Tòn K là con đẻ dùng thanh gỗ dài khoảng 40 cm đánh vào đầu bà Xiêm Mùi P là mẹ đẻ của K bị thương phải vào Trung tâm y tế huyện B điều trị.
Ngày 31/10/2023 Công an xã H chuyển nguồn tin cho Công an huyện B, sau khi tiếp nhận tin báo của Công an xã, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp với Công an xã H và các thành phần chức năng đã tiến hành xác định lại hiện trường, vẽ sơ đồ hiện trường
Ngày 02/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B Quyết định trưng cầu giám định số: 53 yêu cầu xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Xiêm Mùi P. Tại bản kết luận giám định số: 195/KLTTCT-TTPY ngày 07/11/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh C kết luận tổn thương trên cơ thể bà Xiêm Mùi P là: 07%.
Tại Cơ quan điều tra, Triệu Tòn K đã thừa nhận hành vi dùng thanh gỗ của bậc thang tre đánh vào đầu và người bà Xiêm M1 pham là mẹ đẻ của K dẫn đến bị thương tích phải vào Trung tâm y tế huyện điều trị. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan và các tài liệu chứng cứ khác. Tại bản Cáo trạng số: 01/CT – VKSBL ngày 09/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Triệu Tòn K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Tòn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm a, d khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Tòn K từ 09 đến 12 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tôi nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng về tội danh, điều luật đã truy tố theo điểm d khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, với tư cách là người bào chữa tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết sau, việc truy tố bị cáo theo điểm a khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự là chưa thỏa đáng, vì hành vi dung thanh gỗ dài 40 cm, đường kính 1,5cm để đánh không thể gây nguy hiểm đến tính mạng của người bị hại. Do đó, chỉ đề nghị xét xử bị cáo theo theo điểm d khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ và áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Từ những phân tích trên đề nghị cho bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 01 giờ, ngày 21/10/2023 sau khi say rượu, Triệu Tòn K đã có lời qua tiếng lại với bố mẹ của K là ông H và bà P. Do bực tức, K đã dùng một nấc thang gỗ dài khoảng 40cm đánh liên tiếp vào vùng trán, vùng má trái và vai của bà P dẫn đến thương tích. Tổn thương cơ thể của bà P là 07%. Ông H ra can ngăn thì bị K dùng thanh gỗ đánh trúng vào bàn tay phải, khiến tay ông H bị sưng tím, cháu H1 (Con trai của K) đang được ông H bế cũng bị K đánh trúng vào dưới mang tai bên phải bị xước da và chảy máu.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến sức khoẻ của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh xã hội ở địa phương.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Triệu Tòn K phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, d khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với ông Triệu Quầy H, người bị K đánh vào tay, do vết thương không nghiêm trọng, ông H từ chối giám định tỷ lệ tổn thương và không có yêu cầu xử lý K về hành vi này.
Đối với chị Đặng Mùi P1, là mẹ đẻ của cháu Triệu Minh H1, cháu H1 bị K đánh làm xước mang tai, qua xem xét vết thương không nghiêm trọng, chị P1 từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cho con và không có yêu cầu xử lý K về hành vi này.
* Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo: đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự với tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” là không có căn cứ. Dựa trên các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, hung khí bị cáo sử dụng là một thanh gỗ dài 40cm (gỗ đặc), vị trí mà bị cáo gây thương tích cho bị hại là vùng đầu, là vùng xung yếu trên cơ thể, hành vi đánh vào đầu của người bị hại có thể nguy hiểm đến tính mạng của người bị hại, do đó hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Đối với những đề nghị khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Triệu Tòn K sinh ra và lớn lên tại xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo và bị hại là mối quan hệ con và cha mẹ. Tuy nhiên, bị cáo là người ham chơi, lười lao động, quá trình sinh sống thường xuyên có xích mích với các thành viên trong gia đình. Bản thân trước khi thực hiện hành vi đã sử dụng rượu, sau khi lời qua tiếng lại bị cáo đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự).
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 (Một) tiền án về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, cũng như răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Xiêm Mùi P không có yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Hội đồng xét xử nhận thấy các vật chứng là: 01 (Một) khúc gỗ, dài 80cm, đường kính đầu to là 04cm, đường kính đầu nhỏ là 02cm. Bị cháy một đầu; 01 (Một) khúc gỗ dài 40cm, đường kính 1,5cm. Hai đầu được gọt vuông, một đầu có dính vết màu đỏ thẫm nghi là máu. Xác định, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc diện được miễn án phí theo quy định và đã có đơn xin miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Tòn K (tên gọi khác: Triệu Sành V) phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a, d khoản 1 Điều 134, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Tòn K 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 15/11/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 (Một) thanh gỗ, dài 80cm, đường kính đầu to là 04cm, đường kính đầu nhỏ là 02cm, bị cháy một đầu;
- 01 (Một) thanh gỗ dài 40cm, đường kính 1,5cm, hai đầu được gọt vuông, một đầu có dính vết màu đỏ thẫm nghi là máu.
(Toàn bộ vật chứng đã được giao tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản Giao nhận vật chứng, tài sản số: 12 ngày 19/01/2024).
4. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Toà án.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần quyết định liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh; - Viện kiểm sát nhân dân huyện, tỉnh; - Công an huyện Bảo Lạc; - Bị cáo; Bị hại; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện; - Sở tư pháp tỉnh Cao Bằng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu hồ sơ thi hành án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nông Văn Tôn |