vanban.org

Bản án 03/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Long An Tuyên án 17/01/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Nguyễn Hoàng "Hủy hoại tài sản" - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN
¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HS-PT
Ngày: 17/01/2024
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Quốc Khánh

Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Phước Thanh

Ông Lê Hùng Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 173/2023/TLPT-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 143/2023/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Lê Nguyễn H; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 13/4/1979; Nơi sinh: Tỉnh Long An. Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12. Con ông Lê Hoàng A, sinh năm 1956 (chết) và bà Nguyễn thị G, sinh năm 1957. Có 04 anh chị em ruột. Vợ Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1990; con 01 người tên Lê Hoàng P, sinh năm 2003. Tiền án và tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/6/2023 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Lâm Hoàng Đ; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 09/3/1998; Nơi sinh: Tỉnh Long An. Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12. Con ông Lâm Thanh L, sinh năm 1979 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1979. Anh chị em ruột: Không có. Vợ con: không có. Tiền án và tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/6/2023 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

3. Trương Quốc S; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14/02/1999; Nơi sinh: Tỉnh Long An. Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 10/12. Con ông Trương Văn T, sinh năm 1975 (chết) và bà Võ Thị Kim D, sinh năm 1979. Anh chị em ruột: Không có. Vợ là Nguyễn Thanh T1, sinh năm 2003, con có 01 tên Trương Đại V, sinh năm 2022. Tiền án và tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/6/2023 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo hoặc không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị không triệu tập:

- Bị hại: Ông Trương Minh P1 và bà Nguyễn Thị T2.

- Người làm chứng:Ông Nguyễn Văn G1 và bà Trương Thị Mỹ T3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 22/01/2023 (nhằm Mùng 1 Tết âm lịch), ông Trương Minh P1 gọi điện thoại cho bị cáo Lê Nguyễn H để đòi số tiền 4.000.000 đồng mà con ruột của H đã nợ ông P1 trước đây.

Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 23/01/2023, Lê Nguyễn H điều khiển xe mô tô không rõ biển số đến quán B-da không bảng hiệu tại ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An gặp Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S. Tại đây, H kể lại sự việc bị ông ông P1 đòi tiền vào ngày Mùng 1 tết Nguyên đán cho Đ và S nghe, xong H rủ Đ và S đến nhà của ông P1 tại ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An để nói chuyện và trả tiền cho ông P1, Đ, S đồng ý. Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô chở Đ và S đến trước cổng nhà của ông P1, yêu cầu ông P1 ra mở cửa cổng để nói chuyện nhưng ông P1 từ chối, nên S dùng chân đạp vào cửa cổng khoảng 05 lần thì cửa cổng mở ra, H, S, Đ đi vào trước cửa nhà của ông P1. Do ông P1 ở trong nhà không ra nói chuyện với H, S và Đ và ông P1 có lời nói chửi mắng nhóm người của H, nên S dùng 01 cây cơ đánh bi-da nhặt được ở trước cổng nhà của ông P1, đập vào cửa ra vào bên hông nhà làm vỡ 01 tấm kính có kích thước 55 x 157cm, dày 0,5mm, cây cơ đánh bi-da bị gãy làm 04 đoạn, thấy vậy H dùng 01 thanh kim loại hình hộp vuông dài 2,37m và 01 thanh kim loại hình hộp chữ nhật dài 1,07m, nhặt được ở phía sau nhà của ông P1 lần lượt ném vào cửa ra vào bên hông nhà của ông P1, làm vỡ 01 tấm kính có kích thước 55 x 157cm, dày 0,5mm, còn Đ dùng 01 viên gạch ống nhặt được bên ngoài sân ném vào cửa sổ làm vỡ 01 tấm kính có kích thước 35 x 96cm, dày 0,5m. Sau đó, S lấy 07 chậu cây bằng xi măng và 02 chậu cây bằng sứ của ông P1 để trước cửa nhà lần lượt ném vào nhà của ông P1 làm vỡ 03 tấm kính của cửa chính mỗi tấm có kích thước 55 x 157cm, dày 0,5mm, đồng thời các mảnh vở của chậu cây văng vào nhà làm hư hỏng hoàn toàn 01 tivi, nhãn hiệu Sony, loại 49inch của ông P1. Sau đó, H, Đ và S lên xe mô tô đi về, ông P1 đến Công an xã H, huyện Đ, tỉnh Long An tố giác vụ việc.

Vật chứng tạm giữ gồm: 01 tivi nhãn hiệu Sony, màu đen, loại 49 inch, model KD-49X8000G; 01 thanh kim loại hình hộp vuông dài 2,37m, cạnh 03cm, màu xám, bị biến dạng; 01 thanh kim loại hình hộp chữ nhật dài 107cm, cạnh 06 x 0,3cm, màu xám; 01 đoạn cơ bida bằng gỗ màu đen dài 0,75m (gãy 04 đoạn); 01 mảnh chậu bằng sứ bị vỡ không rõ hình dạng, màu trắng, kích thước 20,5 x 09cm; 01 mảnh chậu bằng xi măng bị vỡ không rõ hình dạng, màu đỏ, kích thước 17,5 x 14,5cm; 01 mảnh gạch bị vỡ không rõ hình dạng, kích thước 19 x 8x 4,5cm.

Tại Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 05/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Long An kết luận: “01 tivi nhãn hiệu Sony, màu đen, loại 49 inch, model KD-49X8000G, trị giá 4.400.000 đồng; 05 tấm kính kích thước 55 x 157 cm, dày 0,5 mm, màu nâu, trị giá 8.800.000 đồng; 01 tấm kính kích thước 35 x 96cm, dày 0,5mm, màu nâu, trị giá 150.000 đồng; 07 chậu bằng xi măng, kích thước đường kính 60cm, trị giá 2.695.000 đồng; 02 chậu bằng sứ, màu trắng, kích thước đường kính 50cm, trị giá 560.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 16.605.000 đồng”.

Tại Cáo trạng số 139/CT-VKSĐH ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 143/2023/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã quyết định:

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm đ khoản 1 Điêu 52 Bộ luật Hình sự năm 2015

Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn H 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày thi hành án.

Xử phạt bị cáo Lâm Hoàng Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày thi hành án.

Xử phạt bị cáo Trương Quốc S 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.

Ngày 03 tháng 10 năm 2023, các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S kháng cáo đều xin được chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn là hình phạt cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S thừa nhận đã thực hiện hành vi đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xử và xác định bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về hình thức và thủ tục kháng cáo của các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S trong thời gian luật định, những yêu cầu kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.

Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S có đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng pháp luật, không oan.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường, khắc phục thiệt hại cho bị hại, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo Lê Nguyễn H 01 (một) năm tù, bị cáo Lâm Hoàng Đ 06 (sáu) tháng tù và bị cáo Trương Quốc S 06 (sáu) tháng tù là phù hợp. Các bị cáo H, Đ và S kháng cáo và đều nộp thêm tình tiết gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có ông bà là người có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đề nghị xử phạt H 06 tháng tù; xử phạt các bị cáo Đ và S mỗi bị cáo 03 tháng tù.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 143/2023/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An trong thời hạn pháp luật quy định; yêu cầu kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án nhân tỉnh Long An thụ lý xét xử theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại Điều 340 và Điều 344 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm thống nhất với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 23/01/2023 tại ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S có hành vi hủy hoại các tài sản gồm: 01 tivi nhãn hiệu Sony, màu đen, loại 49 inch; 05 tấm kính kích thước 55 x 157 cm, dày 0,5 mm, màu nâu; 01 tấm kính kích thước 35 x 96 cm, dày 0,5 mm, màu nâu; 07 chậu bằng xi măng, kích thước đường kính 60 cm; 02 chậu bằng sứ, màu trắng, kích thước đường kính 50 cm thuộc sở hữu của ông Trương Minh P1 và bà Nguyễn Thị T2. Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 16.605.000 đồng. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan cho các bị cáo.

[3] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường, khắc phục thiệt hại cho bị hại 40.000.000 đồng và 01 tivi nhãn hiệu Sony, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo Lê Nguyễn H 01 (một) năm tù, bị cáo Lâm Hoàng Đ 06 (sáu) tháng tù và bị cáo Trương Quốc S 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ.

[4] Tuy nhiên, cấp sơ thẩm lại xác định các bị cáo có tình tiết tăng nặng “phạm tội có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là chưa chính xác. Bởi lẽ, các bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Hủy hoại tài sản” thì khách thể bị xâm phạm là tài sản cúa bị hại chứ không phải xâm phạm đến tính mạng, sưc khỏe của bị hại. Do đó, căn cứ tinh thần Công văn 38/NCPL ngày 06/01/1976 và Á lệ số 17/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về tình tiết phạm tội “có tính chất côn đồ” thì chưa có hướng dẫn về áp dụng tình tiết này đối với các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XVI của Bộ luật Hình sự. Do đó, cấp phúc thẩm cần cải sửa về căn cứ này này tại phần quyết định của bản án sơ thẩm và không thể áp dụng tình tiết tăng nặng này theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để làm bất lợi cho các bị cáo.

[5] Các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S kháng cáo và có cung cấp thêm các tình tiết như: Bị cáo H có hoàn cảnh khó khăn theo xác nhận ngày 03/10/2023 của UBND xã H. Bị cáo Lâm Hoàng Đ từ nhỏ cha bỏ đi, mẹ lấy chồng khác phải sống với ông ngoại hiện già yếu (sinh năm 1953) là thương binh 4/4, được thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất và hưởng chính sách người có công theo xác nhận ngày 20/12/2023 của UBND xã H. Bị cáo Trương Quốc S cũng có hoàn cảnh khó khăn do cha chết, mẹ lấy chồng khác, bị cáo phải sống với bà ngoại già yếu (sinh năm 1942) là người được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, hiện hưởng chế độ người có công theo xác nhận ngày 20/12/2023 của UBND xã H.

[6] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nhưng các bị cáo đều là người chưa có tiền án, tiền sự, đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn cũng đảm bảo đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và mang tính phòng ngừa chung.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S, cải sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2023/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An về hình phạt đối với các bị cáo. Xét thấy các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn nên miễn khấu trừ thu nhập của các bị cáo.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S đều không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, do kháng cáo được chấp nhận.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S; Cải sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2023/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An về phần hình phạt.

2. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36, Điều 50; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt:

Bị cáo Lê Nguyễn H 01 năm cải tạo không giam giữ.

Bị cáo Lâm Hoàng Đ 06 tháng cải tạo không giam giữ.

Bị cáo Trương Quốc S 06 tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của các bị cáo được tính kể từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S về UBND xã H nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo Lê Nguyễn H, Lâm Hoàng Đ và Trương Quốc S đều không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ