vanban.org

Bản án 03/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 12/01/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên ố ị cáo Đoàn Quang D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt ị cáo Đoàn Quang D 27 (hai mươi ảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Buộc ị cáo Đoàn Quang D phải ồi thường cho ị hại Phan Văn L số tiền 40.000.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền 20.000.000 đồng ị cáo đã ồi thường trong giai đoạn xét xử p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Quang D phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên ố ị cáo Đoàn Quang D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HS-PT
Ngày: 12/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Năng

Các Thẩm phán:Bà Trần Thị Thu Hiền Ông Nguyễn Hà Ngân.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 161/2023/TLPT-HS ngày 04/12/2023 đối v i ị cáo Đoàn Quang D, do có kháng cáo của ị cáo đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2023/HSST ngày 27/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Đoàn Quang D, sinh ngày: 10/02/1946 tại xã K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn A, xã K, huyện H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10; Dân tộc: Kinh; Gi i tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn C và bà Đặng Thị B (đều đã chết); Có vợ Đào Thị T, sinh năm 1950 và 04 đứa con, l n tuổi nhất 43 tuổi, nhỏ tuổi nhất 33 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng iện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị hại không có kháng cáo: Ông Phan Văn L; Sinh năm 1959; Trú tại: Thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phan Văn L: Bà Nguyễn Thị N – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nư c tỉnh H; Có mặt.

Những người khác không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu tháng 7 năm 2016, Đoàn Quang D, sinh năm 1946, trú tại thôn A, xã K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đi cùng ạn là ông Phan Bá X, sinh năm 1959, trú tại xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đến nhà ông Phan Văn L, trú tại thôn H, xã S, huyện H để chơi. Quá trình ngồi nói chuyện D thấy trên tường nhà của ông L treo ức ảnh chị Phan Thị H (con gái ông L) chụp trong uổi lễ tốt nghiệp Đại Học nên hỏi ông L: “Cháu có việc làm chưa?”, ông L trả lời: “Cháu vừa m i tốt nghiệp ra trường chưa có việc làm”, D nói tiếp: “Cháu học trường nào, tốt nghiệp loại gì”, ông L ảo: “Cháu tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân loại giỏi”. Sau khi nghe ông L nói và iết ông L là thương inh nên D đưa ra thông tin gian dối nói v i ông L ản thân mình có quen iết v i lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh và hứa xin được việc cho cháu H vào công chức của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H, rồi xin ản pho to ằng tốt nghiệp và ảng điểm, đồng thời nói v i ông L sẽ hỏi xin việc cho cháu H nếu được sẽ quay trở lại trao đổi. Vào ngày 12/7/2016, Đoàn Quang D đến nhà ông L đưa ra thông tin gian dối nói v i ông L xin được cho cháu H vào công chức Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H, nhưng phải mất chi phí 100.000.000đ, trư c mắt phải đưa 50.000.000đ, sau khi có quyết định trúng tuyển trả tiếp số tiền còn lại 50.000.000đ. Do tin tưởng nên gia đình ông Phan Văn L đồng ý, rồi hai ên viết giấy thỏa thuận giao nhận tiền v i nhau. Đến ngày 22/02/2017, Đoàn Quang D tiếp tục đưa ra thông tin gian dối nói v i ông L đã xin được việc cho cháu H và yêu cầu đưa thêm 20.000.000đ để xuống thành phố H gặp mặt, tổ chức liên hoan cho cháu H. Do tưởng thật nên ông L đưa tiếp cho D 20.000.000đ, rồi D viết giấy ký tiên xác nhận. Tổng số tiền ông L đưa cho D là 70.000.000đ. Vào sáng ngày 23/02/2017, D gọi ông L cùng chị H đi xuống thành phố H, nhưng khi đến nơi thì cả 3 người vào một quán nư c ên đường gặp một người đàn ông l n tuổi, cả ông L và H đều không quen iết người này, còn D thì gi i thiệu đây là ông Phan Viết L1, trú tại thành phố H là người mà D nhờ xin việc cho H. Cả ốn người ngồi nói chuyện một lúc thì người đàn ông đó dẫn chị H vào một cơ quan đối diện quán nư c, nhưng không gặp ất kỳ người nào cả và ảo chị H đứng chờ, khoảng 05 phút sau quay ra thì người đàn ông đó nói v i chị H: “Được rồi, khi nào có quyết định thì đi làm”. Sau đó ông L, chị H ra về mà không tổ chức liên hoan, gặp mặt như D nói v i ông L từ trư c. Đến ngày 04/3/2018 thấy ông D không xin được việc làm cho chị H, nên ông L đã nhiều lần gọi điện, đến nhà gặp để hỏi về kết quả xin việc cho chị H thì D thừa nhận không xin được và viết giấy hứa hẹn trả lại tiền. Đến ngày 26/01/2019 m i trả cho ông L số tiền 30.000.000đ, hiện còn 40.000.000đ D không trả nên ông L đã làm đơn trình áo v i Cơ quan điều tra.

Tại ản kết luận giám định số 726/KL-KTHS ngày 04/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:

- Chữ viết có nội dung “Tôi đã nhận đủ số tiền 50 triệu của ông Phan Văn L”, “Hôm nay vào hồi 5 giờ 35 phút ngày 22-02-2017 tại nhà ông Đoàn Quang D vay tiếp số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng chẵn) để lo công việc cho cháu. Nếu sai tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm trư c pháp luật” và chữ ký đứng tên Đoàn Quang D trong tờ giấy “ iên ản thỏa thuận đề ngày 12/7/2016 có chữ ký của ông Phan Văn L, ông Đoàn Quang D và ông Đinh Văn L2” là chữ viết và chữ ký của ông Đoàn Quang D.

- Chữ viết và chữ ký đứng tên Đoàn Quang D trong tờ giấy có nội dung “hẹn trả tiền đề ngày 14/12/2018 có chữ ký xác nhận của ông Đoàn Quang D, ông Phan Văn L, ông Trần Xuân T1 và bà Lê Thị H1” là chữ viết và chữ ký của ông Đoàn Quang D.

Quá trình điều tra Đoàn Quang D khai: Bản thân có mối quan hệ quen iết và làm Cộng tác viên cung cấp thông tin áo chí cho ông Phan Viết L1, ở thời điểm đó đang làm Trưởng Văn phòng áo Văn nghệ trẻ M, có địa chỉ tại số B, đường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh nên sau khi nhận số tiền 70.000.000đ của ông Phan Văn L thì D đưa hết cho L1 để nhờ xin việc cho chị H vào công chức Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H. Tuy nhiên việc đưa tiền chỉ có hai người iết, không có giấy tờ gì để chứng minh. Còn ông Phan Viết Lưu k thừa nhận việc D đặt vấn đề xin việc cho chị H vào công chức Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H, ngoài lời khai của D ra thì không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh. Cơ quan điều tra đã cho ông Phan Văn L và chị Phan Thị H nhận dạng ông Phan Viết L1 thì cả ông L và chị H đều khẳng định người đàn ông mà ông L cùng chị H được ông D đưa đi gặp tại quán nư c ở thành phố H không phải là ông L1.

- Vật chứng thu giữ: 01 giấy iên ản thỏa thuận đề ngày 12/7/2016 có chữ ký của ông Phan Văn L, Đoàn Quang D và ông Đinh Văn L2; 01 giấy có nội dung hẹn trả tiền đề ngày 04/3/2018 có chữ ký xác nhận của ông Đoàn Quang D; 01 giấy có nội dung hẹn trả tiền đề ngày 24/11/2018 có chữ ký xác nhận của Đoàn Quang D, ông Phan Văn L, ông Trần Xuân T1 và bà Lê Thị H1; 01 giấy có nội dung hẹn trả tiền đề ngày 14/12/2018 có chữ ký xác nhận của Đoàn Quang D, ông Phan Văn L, ông Trần Xuân T1 và bà Lê Thị H1; 01 giấy có nội dung hẹn trả tiền đề ngày 19/01/2020 có chữ ký xác nhận của Đoàn Quang D.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Phan Văn L yêu cầu ồi thường số tiền 40.000.000đ, ông Đoàn Quang D chấp nhận ồi thường nhưng chưa thực hiện được khoản nào.

Tại ản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HSST ngày 27/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 587, 589 và Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy an Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên ố ị cáo Đoàn Quang D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt ị cáo Đoàn Quang D 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc ị cáo Đoàn Quang D phải ồi thường cho ị hại Phan Văn L số tiền 40.000.000đ.

Ngoài ra ản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 07/11/2023, ị cáo Đoàn Quang D làm đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Bị cáo Đoàn Quang D có đơn xin Toà án cấp phúc thẩm xét xử vắng mặt vì lý do sức khoẻ, ị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, xin Tòa án cấp phúc thẩm được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa phúc thẩm, người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ị hại đề nghị Tòa án xét xử theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của ị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho ị cáo, xem xét kháng cáo của ị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự chấp nhận một phần kháng cáo của ị cáo, sửa ản án sơ thẩm theo hư ng giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo 3 tháng tù, xử phạt ị cáo Đoàn Quang D 27 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Kháng cáo của ị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm:

Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của ị cáo và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Mặc dù iết rõ không thể dùng tiền để có thể xin cho ất cứ ai vào công chức Nhà nư c, nhưng Đoàn Quang D đã lợi dụng sự tin tưởng và thiếu hiểu iết của ông Phan Văn L, để đưa ra thông tin gian dối về việc ản thân mình có thể nhờ xin được việc chị Phan Thị H (con gái của ông Phan Văn L) vào công chức Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H nhưng phải mất chi phí 100.000.000đ. Để rồi sau đó ngày 12/7/2016 và ngày 22/02/2017 ông Phan Văn L đã đưa cho D v i tổng số tiền là 70.000.000đ để D xin việc cho con gái của mình là chị Phan Thị H vào công chức Nhà nư c và ị D chiếm đoạt số tiền này. V i số tiền ị cáo lừa đảo chiếm đoạt là 70.000.000đ thì hành vi của ị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. V i hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đã xét xử ị cáo Đoàn Quang D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của ị cáo Đoàn Quang D, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi của ị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật ảo vệ, gây ức xúc trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trên địa àn. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt ị cáo Đoàn Quang D mức án 30 tháng tù là nghiêm minh.

Về nhân thân: Bị cáo Đoàn Quang D không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai áo; người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên ( ị cáo hiện đã 77 tuổi) quy định tại điểm s, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra ị cáo có cha là ông Đoàn C và mẹ là bà Đào Thị T được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nư c hạng Nhất; ản thân ị cáo có tham gia nhiều phong trào thiện nguyện hỗ trợ tiền và hiện vật tại địa phương; sau khi phạm tội ị cáo đã ồi thường, khắc phục một phần hậu quả thiệt hại cho ị hại là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm ị cáo đã ồi thường cho ị hại số tiền 20.000.000 đồng, ị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét ị cáo Đoàn Quang D có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, là người cao tuổi, hiện sức khỏe yếu, sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối v i ị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh là phù hợp. Vì vậy chấp nhận một phần kháng cáo của ị cáo.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm

Các quyết định khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, không ị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự chấp nhận một phần kháng cáo của ị cáo, sửa ản án sơ thẩm.

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 587, 589 và Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy an Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Về tội danh: Tuyên ố ị cáo Đoàn Quang D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt ị cáo Đoàn Quang D 27 (hai mươi ảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc ị cáo Đoàn Quang D phải ồi thường cho ị hại Phan Văn L số tiền 40.000.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền 20.000.000 đồng ị cáo đã ồi thường trong giai đoạn xét xử phúc thẩm. Buộc ị cáo Đoàn Quang D phải ồi thường số tiền còn lại 20.000.000 đồng cho ị hại Phan Văn L.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì người phải thi hành án phải trả lãi đối v i số tiền chậm trả tương ứng v i thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp ản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí của Tòa án, ị cáo Đoàn Quang D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, án phí dân sự.

3. Các quyết định khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, không ị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ