- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Gia Hồng H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21-02-2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chiêm Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Bạch Nhạn.
2. Ông Phạm Hữu Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lịnh - Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thuý Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21/02/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh
Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 226/2023/TLST-HNGĐ ngày 30/11/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/01/2024 giữa các đương sự:
– Nguyên đơn: Bà Lâm Gia Hồng H, sinh năm 1997 (có mặt).
Địa chỉ: Số C đường V, Khóm D, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
– Bị đơn: Ông Lý Nhứt H, sinh năm 1998 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: Số B đường Đ, Khóm A, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc
Trăng.
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam B. Địa chỉ: Khóm B, Phường B, thị xã
D, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
– Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa, nguyên đơn bà Lâm Gia Hồng H trình bày: Bà H và ông Lý Nhứt H tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 40 vào ngày 01 tháng 6 năm 2018. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là sau khi bà H sinh con thì ông H bỏ nhà đi và thường xuyên ăn chơi, tụ tập với bạn xấu, phạm tội nên phải ở tù, thời gian chấp hành án phạt tù là 12 năm tại trại giam B, tỉnh Trà Vinh. Nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng ở ông H, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu Toà án giải quyết cho bà H được ly hôn. Về con chung: Thời gian sống chung, bà H và ông H có 01 con chung là Lý Bảo D, sinh ngày 15/8/2017, hiện đang sống với bà H. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Nay bà H yêu cầu Toà án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Bà H yêu cầu
được ly hôn với ông H. Về con chung: Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lý Bảo D, sinh ngày 15/8/2017 đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
– Tại Bản tự khai ngày 05/12/2023, bị đơn ông Lý Nhứt H trình bày: Ông H
và bà H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 40, ngày 01 tháng 6 năm 2018. Thời gian chung sống, bà H và ông H có một con chung là Lý Bảo D, sinh ngày 15/8/2017. Tài sản chung và nợ chung: Không có. Nay bà H yêu cầu ly hôn thì ông H cũng đồng ý. Về con chung, ông H đồng ý giao con chung là Lý Bảo D cho bà Hân trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S xác định: Trong
quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử cho bị đơn ông Lý Nhứt H
nhưng ông H vắng mặt và có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Lý Nhứt H.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Gia Hồng H, nhận thấy: Bà
H và ông H tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 40 vào ngày 01 tháng 6 năm 2018. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm sống, tình tình không hoà hợp, ông H không lo làm ăn, tụ tập với bạn xấu, đã phạm tội và bị kết án, hiện đang chấp hành án tại Trại giam B thuộc tỉnh Trà Vinh. Hiện bà H nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông H nên có nguyện vọng ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã động viên bà Hân suy nghĩ lại, hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông H, nhưng bà H vẫn cương quyết xin được ly hôn. Tại Bản tự khai gửi cho Toà án thì ông H cũng đồng ý ly hôn với bà H, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông H.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà H và ông H có một con
chung là Lý Bảo D, sinh ngày 15/8/2017 hiện đang chung sống với bà H. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến trưởng thành, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con và ông H cũng đồng ý giao con chung cho bà H nuôi dưỡng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung là Lý Bảo D cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ cháu D đủ 18 tuổi. Bà H hiện có việc làm, thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện nuôi con, nên việc bà H không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung: Bà H và ông H trình bày không có, không yêu cầu giải
quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Bà H và ông H trình bày không có, không yêu cầu giải
quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của Vị
đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định
tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Khoản 3 Điều 36,
khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Gia Hồng H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Gia Hồng H được ly hôn với ông Lý Nhứt H.
- Về con chung: Giao con chung là Lý Bảo D, sinh ngày 15/8/2017 cho bà
Lâm Gia Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Ông Lý Nhứt H không phải cấp dưỡng nuôi con chung là Lý Bảo D.
Ông Lý Nhứt H được quyền thăm nom con chung là Lý Bảo D theo quy định
của pháp luật.
- Về tài sản chung: Bà Lâm Gia Hồng H và ông Lý Nhứt H trình bày không
có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Bà Lâm Gia Hồng H và ông Lý Nhứt H trình bày không có,
không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2/ Về án phí sơ thẩm: Bà Lâm Gia Hồng H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền ứng án phí bà H đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001224, ngày 13/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Lâm Gia Hồng H đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.
Ông Lý Nhứt H không phải chịu án phí sơ thẩm.
3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ST (Phòng KTNN&THA); - Đương sự; - VKSND TPST; - UBND phường G, TPST. - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòaTM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòaNơi nhận: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Chiêm Ngọc Linh |