vanban.org

Bản án 03/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị M;

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M được ly hôn ông Đỗ Ngọc T Về con chung: Giao hai con chung là Đỗ Ngọc Yến Nhi, sinh ngày 24/2/2011 và Đỗ Ngọc Tuyết Lan, sinh ngày 28/7/2014 cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị M;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24/12/2024
V/v: Ly hôn
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tùng Lâm - Thư ký Tòa án
Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên
mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 03/2024/TLST-HNGĐ
ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/12/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1984
HKTT: Khu C, phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
* Bị đơn: Ông Đỗ Ngọc T, sinh năm 1985.
HKTT: Khu C, phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang
Vắng mặt (Đề nghị xét xử vắng mặt)
Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn, bà Nguyễn Thị M trình bày:

Bà và ông Đỗ Ngọc T kết hôn năm 2009 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, thời gian đầu bà và ông T sống hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông T thường xuyên đi làm xa nhà và không quan tâm tới vợ con. Từ năm 2022, vợ chồng ly thân, sau đó anh T vi phạm pháp luật và bị bắt giam. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, bản thân không còn tình cảm gì đối với ông T nên đề nghị tòa án giải quyết cho bà được ly hôn.

Về con chung: Bà và ông T có 02 con chung là Đỗ Ngọc Yến Nhi, sinh ngày 24/2/2011 và Đỗ Ngọc Tuyết Lan, sinh ngày 28/7/2014. Cả hai con chung đang sống với bà nên bà đề nghị được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có

* Bị đơn, ông Đỗ Ngọc T trình bày: Ông và bà M kết hôn năm 2009 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nhưng chưa trầm trọng đến mức phải ly hôn. Bản thân ông vẫn còn tình cảm với bà M nên ông chưa muốn ly hôn. Bà M xin ly hôn khi ông vướng vào lao lý. Do đó, ông đề nghị tòa án xem xét, ông chỉ đồng ý ly hôn khi bà M đến thăm và nói rõ ràng với ông

Trong trường hợp tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M thì ông đồng ý giao hai con chung là Đỗ Ngọc Yến Nhi, sinh ngày 24/2/2011 và Đỗ Ngọc Tuyết Lan, sinh ngày 28/7/2014. Ông cấp dưỡng nuôi con theo khả năng và tùy tâm, vì sắp tới ông phải chấp hành án.

Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện và tiến hành đúng theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án tại chương XIV Bộ luật tố tụng dân sự. Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

- Đối với Nguyên đơn: Đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình như có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; tham gia đầy đủ các phiên họp; nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Đối với Bị đơn: Đã hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan điểm về hướng giải quyết vụ án

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Bà Nguyễn Thị M được ly hôn ông Đỗ Ngọc T;

- Giao con chung là cháu Đỗ Ngọc Yến Nhi, sinh ngày 24/2/2011 và cháu Đỗ Ngọc Tuyết Lan, sinh ngày 28/7/2014 cho bà M trực tiếp nuôi; do bà M không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả trông luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị M có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh giải quyết cho bà được ly hôn ông Đỗ Ngọc T, có hộ khẩu thường trú: Khu 6, phường Đáp Cầu, thành phố Bắc Ninh; cư trú tại khu Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh nên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn” là đúng quan hệ pháp luật, đúng thẩm quyền theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân:

Ông Đỗ Ngọc T và bà Nguyễn Thị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường Đáp Cầu, thành phố Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 29/9/2009. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà M khai nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do ông T sống không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên đi xa nhà, bỏ bê vợ con. Do đó vợ chồng không còn tôn trọng, thương yêu nhau và quan tâm đến nhau nữa. Năm 2022, bà M và ông T đã ly thân đến nay. Ông T lại cho rằng mâu thuẫn giữa ông và bà M chưa trầm trọng đến mức phải ly hôn, bản thân ông vẫn còn tình cảm với bà M và rất thương con nên ông không đồng ý ly hôn.

Hội đồng xét xử xét:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện về mặt thời gian để các bên hòa giải đoàn tụ gia đình. Đối với nguyên đơn, đã được tòa án giải thích, thuyết phục nhiều lần nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu và không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Đối với bị đơn, bản thân thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật, nên đang bị tạm giam trong hai vụ án đặc biệt nghiêm trọng tại Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang.

Về mặt thực tế bà M và ông T đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Như vậy, có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà M và ông T như bà M trình bày là đúng sự thật.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa M và ông T đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó việc bà M xin ly hôn ông T là chính đáng, có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về con chung: Bà M và ông T đều xác định ông bà có hai con chung là Đỗ Ngọc Yến Nhi, sinh ngày 24/2/2011 và Đỗ Ngọc Tuyết Lan, sinh ngày 28/7/2014. Hiện hai con chung đang ở cùng với bà M. Trong trường hợp vợ chồng ly hôn, ông T và bà M thống nhất giao hai con chung cho bà M được trực tiếp nuôi. Ông T không cấp dưỡng nuôi con vì không có khả năng do đang bị tạm giam. Đây là nguyện vọng, sự thỏa thuận tự nguyện và thống nhất của các đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận, quyết định giao hai con chung cho bà M trực tiếp trong nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà M không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Nếu sau này các đương sự có tranh chấp về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung sẽ được tòa án xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.

Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở

. Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Bà M phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 58, 195, 227, 228, 232, 235, 262, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị M;

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M được ly hôn ông Đỗ Ngọc T

2. Về con chung: Giao hai con chung là Đỗ Ngọc Yến Nhi, sinh ngày 24/2/2011 và Đỗ Ngọc Tuyết Lan, sinh ngày 28/7/2014 cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà M không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà M đã nộp; theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số BLTU/23/0000972 ngày 01/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh. (Bà M đã nộp đủ tiền án phí theo quy định).

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai

Cỡ chữ