vanban.org

Bản án 03/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tòng Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tòng Thị H được ly hôn anh Quàng Văn Tr. Về con chung: Giao cháu Quàng Huỳnh Đ, sinh ngày 29/10/2018 cho chị Tòng Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên và có khả năng lao động. Chị Tòng Thị H chưa yêu cầu anh Quàng Văn Tr cấp dưỡng nuôi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tòng Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN GIÁO
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST
Ngày 04-01-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Tằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Tại và bà Bạc Thị Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thào A Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 16/2023/TLST- HN&GĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tòng Thị H, năm sinh 1991 – vắng mặt.

Địa chỉ: Bản L, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.

2. Bị đơn: Anh Quàng Văn Tr, sinh năm 1990 – vắng mặt.

Địa chỉ: Bản L, xã T, huyện T, tỉnh Điện Biên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 18/10/2023, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Tòng Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị H và anh Quàng Văn Tr kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Tuần Giáo, huyện Tuần Giáo 18/01/2018 trên sự tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống và tranh cãi về tiền bạc, chi tiêu trong sinh hoạt gia đình nên vợ chồng tH xuyên cãi chửi nhau làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Chị H, anh Tr đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2019 đến nay. Từ khi sống ly thân anh chị không còn quan tâm, yêu thương nhau. Chị H xác nhận không còn tình cảm với anh Tr, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Quàng Văn Tr.

- Về con chung: Chị Tòng Thị H, anh Quàng Văn Tr có 01 người con chung là cháu Quàng Huỳnh Đ, sinh ngày 29/10/2018. Khi ly hôn chị H đề nghị giao cháu Quàng Huỳnh Đ cho chị Tòng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Tòng Thị H chưa yêu cầu anh Quàng Văn Tr cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tòng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Quàng Văn Tr: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án anh Quàng Văn Tr không có ý kiến, không đến Tòa án. Tiến hành xác minh tại nơi cư trú thì anh Quàng Văn Tr vắng mặt ở nơi cư trú, đi về thất thường mà không rõ thời điểm trở về (BL 28, 30) nên Tòa án không thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án trực tiếp cho anh Tr. Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho anh Tr. Do anh Tr không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập, thông báo của Tòa án nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa: Chị Tòng Thị H vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị H vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện. Anh Quàng Văn Tr vắng mặt không có lý do.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Nguyên đơn chị Tòng Thị H cơ bản đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Quàng Văn Tr chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh Quàng Văn Tr.

- Về con chung: Căn cứ các Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tòng Thị H giao cháu Quàng Huỳnh Đ, sinh ngày 29/10/2018 cho chị Tòng Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Tòng Thị H chưa yêu cầu anh Quàng Văn Tr cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tòng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Tòng Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về sự vắng mặt nguyên đơn: Chị Tòng Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H.

Về sự vắng mặt bị đơn: Anh Quàng Văn Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Tr.

[1.3] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ đơn khởi kiện của chị Tòng Thị H về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Quàng Văn Tr và các tài liệu chứng cứ kèm theo. Tòa án xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.4] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Quàng Văn Tr có nơi cư trú tại bản Lé Xôm, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

Về áp dụng pháp luật: Chị Tòng Thị H và anh Quàng Văn Tr kết hôn năm 2018. Tòa án áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tòng Thị H và anh Quàng Văn Tr kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tuần Giáo, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 04 ngày 18/01/2018 của UBND thị trấn Tuần Giáo (BL 03). Chị H thừa nhận hai người kết hôn tự nguyện, không ai ép buộc hoặc lừa dối. Xác định quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Tr là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn: Theo kết quả xác minh tại địa phương nơi cư trú, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do anh Quàng Văn Tr và chị Tòng Thị H tH phát sinh tranh cãi về tiền bạc, chi tiêu sinh hoạt trong gia đình nên vợ chồng tH xuyên cãi chửi nhau (BL 49). Hội đồng xét xử xét thấy do anh Quàng Văn Tr và chị Tòng Thị H tH xuyên xảy ra tranh cãi về tiền bạc, chi tiêu trong cuộc sống nên đời sống chung luôn xảy ra cãi chửi nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt nên chị H không muốn duy trì hôn nhân với anh Tr và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay là có căn cứ. Từ khi sống ly thân anh chị đã “bỏ mặc cho nhau muốn sống ra sao thì sống”, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 17, 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Từ những phân tích trên thể hiện hôn nhân của chị H, anh Tr lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh Tr là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tòng Thị H.

Về con chung: Chị H, anh Tr có một người con chung là cháu Quàng Huỳnh Đ, sinh ngày 29/10/2018. Khi ly hôn chị H đề nghị giao cháu Quàng Huỳnh Đ cho chị Tòng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Tòng Thị H chưa yêu cầu anh Quàng Văn Tr cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử thấy qua xác minh tại địa phương, từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chị H anh Tr sống ly thân. Con chung của anh chị cháu Quàng Huỳnh Đ do chị Tòng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến nay. Còn anh Quàng Văn Tr không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con và hiện nay thường xuyên đi xuống các tỉnh miền xuôi làm công nhân, không ở địa phương. Căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế của hai bên và xem xét quyền lợi về mọi mặt cho con nên giao cho chị Tòng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung (cháu Quàng Huỳnh Đan) là phù hợp theo quy định tại Điều 58, Điều 69, Điều 71, Điều 72, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H.

Về cấp dưỡng nuôi con chung chị Tòng Thị H chưa yêu cầu anh Quàng Văn Tr cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tòng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí: Chị Tòng Thị H là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn đề nghị miễn án phí. Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Tòng Thị H.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo là phù hợp, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 69, 71, 72; khoản 1, khoản 2 Điều 81; 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố dụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tòng Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tòng Thị H được ly hôn anh Quàng Văn Tr.

2. Về con chung: Giao cháu Quàng Huỳnh Đ, sinh ngày 29/10/2018 cho chị Tòng Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên và có khả năng lao động. Chị Tòng Thị H chưa yêu cầu anh Quàng Văn Tr cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn chị Tòng Thị H có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; anh Quàng Văn Tr có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh Tr thực hiện quyền này. Chị Tòng Thị H và anh Quàng Văn Tr có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn. Khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Tòng Thị H được miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Chị Tòng Thị H, anh Quàng Văn Tr có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ