vanban.org

Bản án 03/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về thi hành luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Mỹ L. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phạm Thị Mỹ L và ông Phương Quốc H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về thi hành luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16-01-2024.
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ – TỈNH ĐỒNG NAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Thành và bà Trần Thị Yến Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 629/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/12/2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/12/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Mỹ L - sinh năm: 1971.

Địa chỉ: Tổ 11, ấp 1, xã P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Phƣơng Quốc H – sinh năm: 1970.

Địa chỉ: Tổ 11, ấp 1, xã P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

(Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn, lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Mỹ L trình bày:

Bà và ông Phương Quốc H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1992 đến nay không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình sống chung với nhau bà và ông H xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc dẫn đến hay xảy ra cãi vã nhau. Bà và ông H đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc nhau. Bà yêu cầu Tòa án không công nhận bà và ông H là vợ chồng.

Về con chung: Bà và ông Phương Quốc H có 02 người con chung là cháu Phương Thế M1 – sinh ngày 13/9/1995 và cháu Phương Thảo M2 – sinh ngày 03/9/2008. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Phương Thảo M2 và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Đối với cháu Phương Thế M1 đã thành niên và có đủ khả năng lao động tự nuôi bản thân nên bà không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời bị đơn ông Phương Quốc H trình bày:

Ông và bà Phạm Thị Mỹ L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1992 nhưng không đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình sống chung thì ông và bà L xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc dẫn đến xảy ra cãi vã nhau. Ông và bà L không còn sống chung với nhau từ năm 2013 đến nay và không còn quan tâm chăm sóc nhau. Ông đồng ý để Tòa án không công nhận ông và bà L là vợ chồng.

Về con chung: Ông và bà L có 02 người con chung là cháu Phương Thế M1 – sinh ngày 13/9/1995 và cháu Phương Thảo M2 – sinh ngày 03/9/2008. Ông đồng ý giao cháu Phương Thảo M2 cho bà L nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng nuôi con chung.

Đối với cháu Phương Thế M1 đã thành niên và có đủ khả năng lao động tự nuôi bản thân nên ông không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ vào Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 14, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH 10, ngày 09/6/2000; các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phạm Thị Mỹ L và ông Phương Quốc H.

Về con chung: Giao cho bà Phạm Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng 01 người con chung cháu Phương Thảo M2 – sinh ngày 03/9/2008. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà L không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Bà Phạm Thị Mỹ L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Phương Quốc H hiện nay đang cư trú tại tổ 11, ấp 1, xã P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Bà Phạm Thị Mỹ L khởi kiện xin ly hôn với ông Phương Quốc H và yêu cầu nuôi dưỡng cháu Phương Thảo M2 – sinh ngày 03/9/2008 nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xác định tư cách đương sự: Bà Phạm Thị Mỹ L là nguyên đơn và ông Phương Quốc H là bị đơn theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.4] Tống đạt văn bản tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án. Về tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đương sự không có ý kiến gì. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân:

Ông Phương Quốc H và bà Phạm Thị Mỹ L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1992 và không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai vào ngày 20/12/2023. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc dẫn đến xảy ra cãi vã nhau nên ông H và bà L đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc nhau.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông Phương Quốc H và bà Phạm Thị Mỹ L chưa tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống ông H và bà L có điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và điểm b khoản 3 của Nghị quyết số 35/2000/QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì“Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”. Vì vậy, Hội đồng xét xử không công nhận ông Phương Quốc H và bà Phạm Thị Mỹ L là vợ chồng.

Về con chung: Ông Phương Quốc H và bà Phạm Thị Mỹ L có 02 người con chung là cháu Phương Thế M1 – sinh ngày 13/9/1995 và cháu Phương Thảo M2 – sinh ngày 03/9/2008. Xét thấy: Cháu Phương Thảo M2 còn nhỏ, có nguyện vọng ở bà L và hiện đang ở với bà L được bà L chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, khi ly hôn ông H đồng ý giao cháu M2 cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cũng như sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần cho con nên căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Phương Thảo M2 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Phương Quốc H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà L không yêu cầu.

Đối với cháu Phương Thế M1 đã thành niên và có đủ khả năng lao động tự nuôi bản thân các đương sự không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Phạm Thị Mỹ L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điều 9, Điều 11, Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Điều 14, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về thi hành luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Mỹ L.

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phạm Thị Mỹ L và ông Phương Quốc H.

2. Về con chung: Ông Phương Quốc H và bà Phạm Thị Mỹ L có 02 người con chung là cháu Phương Thế M1 – sinh ngày 13/9/1995 và cháu Phương Thảo M2 – sinh ngày 03/9/2008

Giao cho bà Phạm Thị Mỹ L có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 người con chung là cháu Phương Thảo M2. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà L không yêu cầu.

Ông Phương Quốc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Phạm Thị Mỹ L phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0012805 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Bà L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ