vanban.org

Bản án 03/2024/HNGD-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tòng Thị T: Chị Tòng Thị T được ly hôn anh Lò Văn C. Về con chung: Giao cháu Lò Minh H, sinh ngày 11/4/2021 cho chị Tòng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tòng Thị T / Lò Văn Cương - Ly hôn tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG ẢNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 03/2024/HNGD-ST
Ngày 12 tháng 01 năm 2024
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lê Quốc Cường

2. Ông: Lường Văn Hưởng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Tuân – Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2023/TLST-HN&GĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 27 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Tòng Thị T, sinh năm 2001

Nơi cư trú: Bản K, xã XL, huyện MA, tỉnh Điện Biên (Có mặt).

Bị đơn: Anh Lò Văn C, sinh năm 1994

Nơi cư trú: Bản K, xã XL, huyện MA, tỉnh Điện Biên (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 04/10/2023; tại bản tự khai ngày 19/10/2023 nguyên đơn chị Tòng Thị T trình bày:

* Về hôn nhân: Tôi (Tòng Thị T) và Lò Văn C đăng ký kết hôn ngày 27/7/2020 tại UBND xã Xuân Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Trước khi kết hôn hai bên tự nguyện tìm hiểu, yêu nhau, không có sự ép buộc và tác động bên ngoài. Sau khi cưới vợ chồng tôi chuyển về sinh sống ở nhà bố mẹ chồng tại bản K, xã XL, huyện MA, được khoảng 21 tháng thì phát sinh mâu thuẫn do anh Lò Văn C nghiện chất ma túy và bị bắt đi cai nghiện vào tháng 12/2021 tại Hà Nội. Đến tháng 04/2023 thì cai nghiện xong. Trong thời gian cai nghiện tôi vẫn ở nhà đợi anh về nhưng khi trở về địa phương anh Lò Văn C vẫn không bỏ được ma tuý. Mặc dù tôi và hai bên gia đình đã khuyên can nhiều lần nhưng anh vẫn không từ bỏ, cuộc sống chung của vợ chồng tôi vẫn không được cải thiện mà ngày càng lâm vào tình trạng trầm trọng. Từ tháng 02/2022 đến nay tôi bỏ về nhà bố mẹ ở sống, tôi và anh Lò Văn C sống ly thân từ đó đến nay. Nay tôi thấy đời sống chung giữa vợ chồng tôi không thể kéo dài được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chồng tôi là anh Lò Văn C.

* Về con chung: Trong quá trình chung sống chúng tôi có 01 người con chung là cháu Lò Minh H, sinh ngày 11/4/2021. Hiện cháu đang sống cùng tôi và ông bà ngoại tại bản K, xã XL, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Nguyện vọng của tôi sau khi ly hôn là tôi được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lò Minh H cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tôi không yêu cầu anh Lò Văn C phải cấp dưỡng nuôi con chung.

* Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung thu về: Tôi và anh Lò Văn C không có.

* Bị đơn: Anh Lò Văn C mặc dù được Tòa án thông báo và triệu tập nhiều lần và đúng quy định của pháp luật nhưng anh Lò Văn C vẫn vắng mặt tại phiên toà.

Tại bản tự khai bị đơn anh Lò Văn C trình bày:

Về hôn nhân: Tôi (Lò Văn C) và chị Tòng Thị T đăng ký kết hôn ngày 27/7/2020 tại UBND xã Xuân Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc. Trong quá trình chung sống thì phát sinh những mâu thuẫn, do năm 2021 tôi nghiện ma tuý nhưng đến nay tôi đã bỏ được. Từ năm 2022 chị Tòng Thị T đã bỏ đi làm ăn xa và chúng tôi ly thân từ đó đến nay. Nay chị Tòng Thị T xin ly hôn tôi không nhất trí, mong chị Tòng Thị T quay về đoàn tụ để nuôi dậy con.

Về con chung: Trong quá trình chung sống tôi và chị Tòng Thị T có 01 người con chung là cháu Lò Minh H, sinh ngày 11/4/2021. Hiện nay cháu đang ở cùng với mẹ cháu và ông bà ngoại, hiện nay cháu còn bé cháu thích ở với ai thì ở, nếu chị Tòng Thị T nhất quyết ly hôn tôi nguyện vọng của tôi về việc giải quyết con chung là muốn được nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung thu về: Không có.

* Trong quá trình giải quyết vụ án:

- Tòa án đã tiến hành xác minh nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của anh Lò Văn C; xác minh nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn của chị Tòng Thị T và anh Lò Văn C và xác minh điều kiện kinh tế của chị Tòng Thị T.

- Trong quá trình thụ lý giải quyết chị Tòng Thị T có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải.

* Quan điểm của đại diện VKSND huyện Mường Ảng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, xác định quan hệ pháp luật, Tư cách người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, tống đạt các văn bản tố tụng.

Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hôn nhân: Tuyên bố chị Tòng Thị T được ly hôn anh Lò Văn C.

- Về Con chung: Giao cháu Lò Minh H, sinh ngày 11/4/2021 cho chị Tòng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Chị Tòng Thị T, anh Lò Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung.

- Tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Anh Lò Văn C, chị Tòng Thị T không có.

- Án phí: Chị Tòng Thị T là người dân tộc thiểu số và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án nên miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị Tòng Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện VKSND huyện Mường Ảng. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Ngày 10/10/2023, Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án và tống đạt trực tiếp cho bị đơn là anh Lò Văn C.

Tòa án ra thông báo về Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đã tiến hành tống đạt trực tiếp bị đơn có mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ; ngày 19/10/2023 chị Tòng Thị T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Do vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt và niêm yết Quyết định theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 27/12/2023, Nguyên đơn là chị Tòng Thị T có mặt, bị đơn là anh Lò Văn C vắng mặt không có lý do lần thứ nhất, căn cứ khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử lại vào ngày 12/01/2024.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, nguyên đơn là chị Tòng Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình như đơn khởi kiện; Bị đơn là anh Lò Văn C vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Lò Văn C.

Nội dung vụ án:

* Về hôn nhân: Theo nội dung đơn xin ly hôn, bản tự khai của chị Tòng Thị T và anh Lò Văn C tại phiên tòa và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Tòng Thị T và anh Anh đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị hoà thuận, đầm ấm, hạnh phúc được 21 tháng thì phát sinh mâu thuẫn do anh Lò Văn C nghiện chất ma túy và bị bắt đi cai nghiện vào tháng 12/2021 tại Hà Nội. Đến tháng 04/2023 thì cai nghiện xong. Trong thời gian cai nghiện chị Tòng Thị T vẫn ở nhà đợi anh về, nhưng khi trở về địa phương anh Lò Văn C vẫn không bỏ được ma tuý . Từ tháng 02/2022 chị Tòng Thị T bỏ về nhà bố mẹ ở sống, chị Tòng Thị T và anh Lò Văn C sống ly thân từ đó đến nay. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Tòng Thị T và anh Lò Văn C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 51 và khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Tòng Thị T. Tuyên xử cho chị Tòng Thị T được ly hôn với anh Lò Văn C.

Về con chung: Chị Tòng Thị T và anh Lò Văn C có 01 người con chung là cháu Lò Minh H, sinh ngày 11/4/2021. Chị Tòng Thị T có nguyện vọng sau khi ly hôn, chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lò Minh H đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu Lò Minh H đang con nhỏ, sống ổn định cùng với chị Tòng Thị T, ông bà ngoại và được chăm sóc, học tập tốt nên để không gây xáo trộn về tâm lý đồng thời đảm bảo cho sự phát triển về tinh thần cũng như quyền lợi về mọi mặt của cháu nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận nguyện vọng của chị Tòng Thị T về việc giao nuôi con chung. Anh Lò Văn C cũng có nguyện vọng được nuôi con nhưng cháu Lò Minh H đang còn nhỏ dưới 03 tuổi, điều kiện chăm sóc con chưa được đảm bảo nên HĐXX không chấp nhận.

Chị Tòng Thị T, anh Lò Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

* Tài sản chung; tài sản riêng; nợ phải trả; nợ thu về: Không có, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Về án phí: Chị Tòng Thị T là người dân tộc thiểu số và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hội đồng xét xử miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Tòng Thị T.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 của BLTTDS 2015.

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84, Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tòng Thị T: Chị Tòng Thị T được ly hôn anh Lò Văn C.

2. Về con chung: Giao cháu Lò Minh H, sinh ngày 11/4/2021 cho chị Tòng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Nghĩa vụ về cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn: Chị Tòng Thị T, anh Lò Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Lò Văn C có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên; người thân thích; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về: Chị Tòng Thị T, anh Lò Văn C không có.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Tòng Thị T.

5. Quyền kháng cáo: Chị Tòng Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Lò Văn C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của người vắng mặt.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự; người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ