vanban.org

Bản án 03/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trang Thúy K.

Chị Trang Thúy Kiều được ly hôn với anh Trịnh Văn T. Về con chung: Anh Trọn trực tiếp nuôi con chung tên Trang Thị Tường D, sinh ngày 25/02/2012, chị K không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu. Chị K trực tiếp nuôi con chung tên Trịnh Ngọc Băng T1 sinh ngày 01/11/2016, anh T không phải c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trang Thúy K, -Trịnh Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trang Thúy K.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24- 01-2024
V/v Ly hôn, t/c về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Tthành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hồng Nhan

2. Ông Phan Thành Phước

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc: Ông Nguyễn Hoàng Nhân – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 225/2024/TLST-HN ngày 03 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐST – HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trang Thúy K, sinh năm 1989;

Địa chỉ: ấp Gi, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Trịnh Văn T, sinh năm 1982;

Địa chỉ: ấp G, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre

Chị K, anh T có yêu cầu giải quyết vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trang Thúy K trình bày:

Chị và anh T tự nguyện quen biết và chung sống như vợ chồng từ năm 2011 nhưng chưa đăng ký kết hôn vì gia đình không cho phép, đến ngày 25/02/2012 chị sinh cháu Trang Thị Tường D và làm khai sinh mang họ mẹ không có tên cha trong giấy khai sinh, đến năm 2016 thì đăng ký kết hôn và sinh cháu Trịnh Ngọc Băng T1 ngày 01/11/2016, lúc này cháu Tâm mang họ cha và có tên cha là Trịnh Văn T trong giấy khai sinh nhưng vợ chồng sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, anh T ghen tuông nghi ngờ nên mâu thuẫn hay cãi nhau, chị không ở được và dẫn cháu T1 bỏ đi 03 năm nay. Trong thời gian ly thân chị, gia đình hai bên có hàn gắn tình cảm cho vợ chồng nhưng không thành. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với anh T.

Về con chung: có 02 con chung tên Trang Thị Tường D, sinh ngày 25/02/2012, chị để con cho anh T nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con. Con chung Trịnh Ngọc Băng T1, sinh ngày 01/11/2016 chị xin nuôi, không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Trường hợp anh T từ chối nuôi con thì chị xin nuôi hết hai con không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung; Không có.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/12/2023 anh T trình bày như sau:

Anh và chị Trang Thúy K do tự nguyện quen biết và chung sống như vợ chồng và sinh cháu Trang Thị Tường D nhưng không có tên cha, mang họ mẹ do chưa đăng ký kết hôn, nhưng cháu D là con ruột của anh. Đến năm 2016 anh và chị Kiều mới đăng ký kết hôn và sinh con thứ 2 tên Trịnh Ngọc Băng T1, sinh ngày 01/11/2016, giấy khai sinh cháu T1 có tên cha và mang họ cha. Anh và chị K có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, sau kết hôn hạnh phúc được 08 năm sau đó mất hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống nên K bỏ nhà đi 03 năm. Trong thời gian ly thân không có gặp gỡ hàn gắn. Nay anh đồng ý ly hôn.

Con chung: Trang Thị Tường D đang sống với anh, anh xin nuôi cháu D, không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con. Trịnh Ngọc Băng T1 đang sống với chị K anh để chị K nuôi, anh không cấp dưỡng. Khi ly hôn, anh không cấp dưỡng cho chị K, anh cũng không yêu cầu chị K cấp dưỡng cho anh.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung; Không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán trong quá trình thụ lý vụ án và giải quyết đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của đương sự trong quá trình thụ lý và giải quyết nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Trang Thúy K, chị K được ly hôn với anh T; Con chung tên Trang Thị Tường D sinh ngày 25/02/2012, anh Trọn trực tiếp nuôi, chị K không cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu; Con chung tên Trịnh Ngọc Băng T1, sinh ngày 0111/2016, chị K trực tiếp nuôi, anh T không cấp dưỡng nuôi con do chị Kiều không yêu cầu; Tài sản chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Nợ chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ pháp luật: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung vụ án cần giải quyết, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thẩm quyền giải quyết: Theo xác nhận của Công an xã Nn, huyện M, tỉnh Bến Tre xác nhận anh Trịnh Văn T hiện có đăng ký thường trú tại xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

Chị Trang Thúy K, anh Trịnh Văn T có yêu cầu xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị K, anh T là phù hợp.

Về hôn nhân: Chị Trang Thúy K, anh Trịnh Văn T kết hôn vào năm 2016, trên cơ sở quen biết và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện M vào ngày 06/5/2016 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị K, chị K cho rằng thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng thời gian sau, nhưng vợ chồng sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, anh T ghen tuông nghi ngờ nên mâu thuẫn hay cãi nhau, chị không ở được và dẫn cháu T1 bỏ đi 03 năm nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với anh T. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành xác minh nguyên nhân mất hạnh phúc giữa chị K và anh T thì chính quyền địa phương cho rằng chị K và anh T trong thời gian sống chung chị K và anh T bất đồng quan điểm sống hay cãi nhau nên chị Kiều bỏ nhà đi làm xa từ năm 2020. Như vậy, giữa chị K và anh Tmâu thuẫn là có thật. Anh T không đến tòa nhưng có ý kiến đồng ý ly hôn chứng tỏ anh T cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Anh chị là vợ chồng nhưng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ vợ chồng, thấy rằng mâu thuẫn giữa chị Kiều và anh Trọn đã trầm trọng, muïc ñích hoân nhaân giöõa hai anh chò khoâng ñaït ñöôïc ñôøi soáng chung khoâng theå keùo daøi neân chaáp nhaän yeâu caàu của chị Kiều là phù hợp.

Về con chung: Chị K và anh T có 02 con chung tên Trang Thị Tường Duy, sinh ngày 25/02/2012 và Trịnh Ngọc Băng T1, sinh ngày 01/11/2016; chị Ki và anh T đều trình bày anh T nuôi cháu D, chị K không cấp dưỡng nuôi con; chị K nuôi cháu T1, anh T không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên cháu D có nguyện vọng sống với anh T. Xét thấy, hiện nay cháu D đang sống với anh T, anh Trcũng có điều kiện nuôi cháu nên để đảm bảo về mặt tinh thần và thể chất cho cháu D nên Hội đồng xét xử giao cháu D, cho anh T nuôi là phù hợp, chị K không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu. Đối với cháu T1: hiện nay, cháu T1 đang sống với chị K , chị K cũng có điều kiện nuôi con nên để đảm bảo về mặt tinh thần và thể chất cho cháu T1 Hội đồng xét xử giao cháu T1, cho chị K nuôi là phù hợp, chị K không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu.

Về tài sản chung: Chị K và anh T trình bày không có nên không xem xét.

Về nợ chung: Chị K và anh T trình bày không có nên không xem xét.

Án phí ly hôn: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên chị K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo qui định là 300.000 đồng.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trang Thúy K.

Chị Trang Thúy Kiều được ly hôn với anh Trịnh Văn T.

2. Về con chung: Anh Trọn trực tiếp nuôi con chung tên Trang Thị Tường D, sinh ngày 25/02/2012, chị K không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu. Chị K trực tiếp nuôi con chung tên Trịnh Ngọc Băng T1 sinh ngày 01/11/2016, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị K không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84, điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình , Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung: Chị K và anh T trình bày không có nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị K và anh T trình bày không có nên không xem xét.

5. Án phí: Chị Trang Thúy K phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0002308 ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc nên không phải nộp thêm.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ