vanban.org

Bản án 03/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Tạ Thị H và ông Hoàng Xuân H. Về con chung: Các con chung là Hoàng Việt L, sinh năm 1995 và Hoàng Minh Q, sinh năm 2000 đều đã trên 18 tuổi, phát triển bình thường và tự nuôi sống bản thân nên các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu không công nhận vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16/01/2024.
V/v: Yêu cầu không công nhận
vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Ngọc Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân gồm có: Bà Trịnh Thị Oanh.

Ông Lý Viết Chấn.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hải Lý – Thư ký Toà án nhân dân huyện Krông Pắc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 16/01/2024, tại phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 488/2023/TLST-HNGĐ ngày 22/11/2023 về việc “Yêu cầu không công nhận vợ chồng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tạ Thị H, sinh năm 1969.

Nơi thường trú: Thôn 17, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

- Bị đơn: Ông Hoàng Xuân H1, sinh năm 1971.

Nơi thường trú: Thôn 17, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Tạ Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi với ông Hoàng Xuân H1 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995, có tổ chức lễ cưới. Tuy nhiên, chúng tôi không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi tổ chức lễ cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xung đột, cãi vã, mặc dù đã nhiều lần hàn gắn nhưng cuộc sống ngày càng ngột ngạt, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay chúng tôi không còn chung sống với nhau nữa. Vì vậy, tôi làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa tôi với ông Hoàng Xuân H1.

- Về con chung: Quá trình chung sống, chúng tôi có 02 con chung là Hoàng Việt L, sinh năm 1995; Hoàng Minh Q, sinh năm 2000. Hiện nay các con chung đã trên 18 tuổi, có công việc, gia đình riêng nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Hoàng Xuân H1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi nhất trí với lời trình bày của bà Tạ Thị H. Hiện nay cuộc sống vợ chồng của chúng tôi không thể tiếp tục duy trì được nữa. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng.

- Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là Hoàng Việt L, sinh năm 1995; Hoàng Minh Q, sinh năm 2000. Hiện nay các con chung đã trên 18 tuổi, đã có công việc, gia đình riêng nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Yêu cầu không công nhận vợ chồng”, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.

Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình 2014; điểm b mục 3 Nghị Quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội. Đề nghị HĐXX Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Thị H. Về hôn nhân: Không công nhận bà Tạ Thị H và ông Hoàng Xuân H là vợ chồng; Về con chung; tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Thị H đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng với ông Hoàng Xuân H1 là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Thị H và ông Hoàng Xuân H1 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995, ông bà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Nay bà H có đơn yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng với ông H1, căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX cần chấp nhận yêu cầu của bà H, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Tạ Thị H và ông Hoàng Xuân H1.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà H và ông H1có hai con chung là Hoàng Việt L, sinh năm 1995 và Hoàng Minh Q, sinh năm 2000, các con chung đều đã trên 18 tuổi, phát triển bình thường và tự nuôi sống bản thân, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bà Tạ Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 7 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình.

Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Tạ Thị H và ông Hoàng Xuân H.

- Về con chung: Các con chung là Hoàng Việt L, sinh năm 1995 và Hoàng Minh Q, sinh năm 2000 đều đã trên 18 tuổi, phát triển bình thường và tự nuôi sống bản thân nên các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Tạ Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0003546 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.

3. Thông báo quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ