vanban.org

Bản án 03/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn với anh H Văn T. Về con chung: Giao cháu H Minh Hiếu, sinh ngày 28/12/2018 cho chị Vũ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi cháu Hiếu chưa tHnh niên, đã tHnh niên mà mất năng lực Hnh vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24/01/2024
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH G

THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Đặng Anh Việt.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Sâm và ông Lê Đình Hưng.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Chinh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G tiến Hnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 148/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13/12/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 05/01/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ dân phố 9, thị trấn Chư Ty, huyện Đ, tỉnh G.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh H Văn T, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn Chư Bồ 2, xã Ia Kla, huyện Đ, tỉnh G.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:

Chị Vũ Thị H và anh H Văn T có trải qua thời gian tìm hiểu sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Ia Kla, huyện Đ, tỉnh G vào ngày 13/3/2018.

Sau khi kết hôn, chị H và anh T chung sống hạnh phúc tới năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống không hòa T, không có hạnh phúc. Vợ chồng chị đã nhiều lần tự hòa giải mâu thuẫn nhưng không được. Chị H và anh T đã sống ly thân một thời gian. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng không còn khả năng Hn gắn để tiếp tục chung sống, tình cảm vợ chồng không còn nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung tên: H Minh Hiếu, sinh ngày 28/12/2018.

Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hiếu cho đến khi cháu Hiếu tHnh niên và tự lập được. Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, bị đơn anh H Văn T không đến Toà án để tham gia tố tụng, không có lời khai tại hồ sơ và không có lời khai tại phiên toà.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc chấp Hnh pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã chấp Hnh đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

+ Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Vũ Thị H và anh H Văn T là hợp pháp. Quá trình chung sống, giữa chị H và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng đã sống ly thân một thời gian, chị H có đơn xin ly hôn, anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T không đến Toà án để tham gia tố tụng. Xét thấy, quan hệ hôn nhân là sự gắn kết giữa vợ chồng, phải có sự đồng T, tự nguyện từ hai phía, phải có tình yêu thương, quan tâm, chăm sóc giữa các tHnh viên trong gia đình nhưng anh, chị không ở bên nhau để yêu thương và chia sẻ những vấn đề trong cuộc sống hôn nhân, chị H không còn yêu thương anh T, không còn mong muốn chung sống cùng anh T nữa. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.

Về con chung: Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H Minh Hiếu. Anh H Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến về việc giải quyết nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giao cháu H Minh Hiếu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng các cháu cho đến khi cháu Hiếu tHnh niên và có khả năng lao động tự lập được. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Vũ Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn và giải quyết nuôi con chung với anh H Văn T có địa chỉ tại thôn Chư Bồ 2, xã Ia Kla, huyện Đ, tỉnh G. Vì vậy đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, anh H Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh H Văn T trải qua qua thời gian tìm hiểu, tiến tới hôn nhân và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ia Kla, huyện Đ, tỉnh G, vì vậy hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Quá trình chung sống với anh T, nhận thấy mâu thuẫn phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh T.

Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân là sự gắn kết giữa vợ chồng, phải có sự đồng T, tự nguyện từ hai phía, phải có tình yêu thương, quan tâm, chăm sóc giữa các tHnh viên trong gia đình nhưng chị H và anh T không ở bên nhau để yêu thương và chia sẻ những vấn đề trong cuộc sống hôn nhân, chị H không còn yêu thương anh T, không còn mong muốn chung sống cùng anh T nữa. Như vậy, chị H và anh T đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia hòa giải, lấy lời khai, tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt và cũng không có ý kiến gì. Điều đó thể hiện anh T không còn quan tâm tới quan hệ hôn nhân với chị H, không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy, chị H yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung tên là: H Minh Hiếu, sinh ngày 28/12/2018. Cháu Hiếu hiện đang sống cùng chị H. Chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Hiếu cho đến khi cháu trưởng tHnh và tự lập được. Quá trình giải quyết vụ án, anh H Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không có văn bản thể hiện nguyện vọng muốn nuôi dưỡng cháu Hiếu. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Hiếu đang còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ, từ khi chị H và anh T sống ly thân đến nay, cháu Hiếu do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T không thể hiện nguyện vọng nuôi dưỡng con chung, chị H có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, đảm bảo sự phát triển toàn diện của cháu Hiếu. Do đó, cần giao cháu H Minh Hiếu cho chị H nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng tHnh và tự lập được là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung và anh T cũng không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh T cũng không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Vũ Thị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 9, 19, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn với anh H Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu H Minh Hiếu, sinh ngày 28/12/2018 cho chị Vũ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi cháu Hiếu chưa tHnh niên, đã tHnh niên mà mất năng lực Hnh vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Anh H Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng.

3. Về án phí: Buộc chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về ly hôn để sung quỹ nH nước, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005591ngày 09/10/2023 của Chi cục thi Hnh án dân sự huyện Đ, tỉnh G. Chị H đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 24/01/2024, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ Luật tố tụng Dân sự để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thoả T thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hnh án dân sự.

Cỡ chữ