- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa bà Hoàng Thị Kim O và ông Huỳnh Văn D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Hoàng Thị Kim O được ly hôn với ông Huỳnh Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25-01-2024 V/v tranh chấp: “Yêu cầu ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Ngọc Phi.
2. Ông Bùi Huy Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 356/2023/TLST-HNGĐ ngày 13/10/2023, về tranh chấp: “Yêu cầu ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXX-ST ngày 20/12/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HPT ngày 08/01/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Kim O, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Tổ 30, ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Tổ 30, ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
(Bà O xin vắng mặt, ông D vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai bà Hoàng Thị Kim O trình bày:
Bà Hoàng Thị Kim O và ông Huỳnh Văn D qua thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 16/9/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Quảng Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Thời gian đầu, bà O và ông D sống hạnh phúc, sống hạnh phúc đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do giữa bà O và ông D không hợp nhau, bất đồng trong cuộc sống, thường xuyên cãi vả nhau và không tin tưởng lẫn nhau. Bên cạnh đó ông D thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn, chửi bới, không quan tâm tới vợ con. Bà O và ông D sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Bà Hoàng Thị Kim O nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng không có kết quả nên bà O yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Văn D.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Kim O yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Văn D.
Về con chung: Bà Hoàng Thị Kim O và ông Huỳnh Văn D có 01 người con chung là cháu Huỳnh Thị Băng C, sinh năm 1994. Hiện cháu Huỳnh Thị Băng C đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên sống với ai là nguyện vọng của cháu.
Về tài sản chung, về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Huỳnh Văn D trình bày:
Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng ông D không đến tòa án để làm việc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về tố tụng Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án là đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Bà Hoàng Thị Kim O và ông Huỳnh Văn D qua thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 16/9/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Quảng Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Thời gian đầu, bà O và ông D sống hạnh phúc, sống hạnh phúc đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do giữa bà O và ông D không hợp nhau, bất đồng trong cuộc sống, thường xuyên cãi vả nhau và không tin tưởng lẫn nhau. Bên cạnh đó ông Dân thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn, chửi bới, không quan tâm tới vợ con. Bà O và ông D sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Bà O yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Văn D thì Tòa án cần xử theo yêu cầu của bà O. Về con chung: Bà Hoàng Thị Kim O và ông Huỳnh Văn D có 01 người con chung là cháu Huỳnh Thị Băng C, sinh năm 1994. Hiện cháu Huỳnh Thị Băng C đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên sống với ai là nguyện vọng của cháu. Về tài sản chung và nợ chung: Bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này bà O, ông D có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Hoàng Thị Kim O và ông Huỳnh Văn D có đăng ký kết hôn vào ngày 16/9/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Quảng Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nay bà O yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; Nơi cư trú của ông Huỳnh Văn D là xã Quảng Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Ông Dân đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt ông D là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà O có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bà O là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Kim O và ông Huỳnh Văn D qua thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 16/9/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Quảng Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Thời gian đầu, bà O và ông Dân sống hạnh phúc, sống hạnh phúc đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà O là do giữa bà O và ông D không hợp nhau, bất đồng trong cuộc sống, thường xuyên cãi vả nhau và không tin tưởng lẫn nhau. Bên cạnh đó ông Dân thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn, chửi bới, không quan tâm tới vợ con. Bà O và ông Dân sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Bà O yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Văn D. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã triệu tập ông D để làm việc, hòa giải nhưng ông Dân không đến Tòa án. Xác minh tại địa phương thì ông D có sinh sống, cư trú tại địa phương.
Như vậy giữa bà O và ông Dân có nhiều mâu thuẫn. Bà O yêu cầu ly hôn với ông Dân là phù hợp. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà O và ông Dân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà Hoàng Thị Kim O được ly hôn với ông Huỳnh Văn D.
Về con chung: Bà Hoàng Thị Kim O và ông Huỳnh Văn D có 01 người con chung là cháu Huỳnh Thị Băng C, sinh năm 1994. Hiện cháu Huỳnh Thị Băng C đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên sống với ai là nguyện vọng của cháu.
Về tài sản chung và nợ chung:
Bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này bà O, ông D có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
Về án phí:
Bà O phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà O đã nộp, bà O đã nộp xong án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Hoàng Thị Kim O được ly hôn với ông Huỳnh Văn D.
Về quan hệ con chung: Bà Hoàng Thị Kim O và ông Huỳnh Văn D có 01 người con chung là cháu Huỳnh Thị Băng C, sinh năm 1994. Hiện cháu Huỳnh Thị Băng C đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên sống với ai là nguyện vọng của cháu.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này bà O, ông D có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
Về án phí: Bà Hoàng Thị Kim O phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà O đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai số 0008837 ngày 13/10/2023, bà O đã nộp xong án phí.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/01/2024), đương sự có quyền kháng cáo; đối với bà O, ông Dân vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR - VT; - VKSND H.Châu Đức; - Cơ quan THA dân sự H.Châu Đức; - UBND xã Quảng Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hữu Loan |