vanban.org

Bản án 03/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với anh Hoàng Minh T. [2] Về con chung: Giao hai con chung tên Hoàng Bảo K, sinh ngày 14/5/2015 và Hoàng Bảo K1, sinh ngày 12/6/2018 cho chị Nguyễn Thị Thúy H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc khi có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HNGĐ -ST
Ngày: 25 - 01 - 2024
V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quảng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Đình Vang và bà Nguyễn Thị Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Quỳnh Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2023/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn R, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Minh T, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn 1 (nay là TDP 15), thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam T17, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 10 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày:

Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Hoàng Minh T tự nguyện tìm hiểu nhau, được gia đình hai bên đồng ý và đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 12 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là thị trấn H), huyện B, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến tháng 3/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T không tu chí làm ăn, bỏ bê gia đình, vợ con khiến cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Ngày 17/3/2023 anh T bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên án tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Nhận thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống, nên chị Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Hoàng Minh T.

2. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung tên Hoàng Bảo K, sinh ngày 14/5/2015 và Hoàng Bảo K1, sinh ngày 12/6/2018. Khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục hai con chung. Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 14/12/2023 bị đơn anh Hoàng Minh T trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Minh T thống nhất với phần trình bày của chị Nguyễn Thị Thúy H về thời gian tìm hiểu, kết hôn và thời gian chung sống. Sau khi kết hôn, anh T và chị H chung sống với nhau phát sinh nhiều mâu thuẫn. Tháng 3/2023 anh T bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt mức án tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Nay anh T xác định tình cảm không còn nên trước yêu cầu xin ly hôn của chị H thì anh T đồng ý.

2. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung tên Hoàng Bảo K, sinh ngày 14/5/2015 và Hoàng Bảo K1, sinh ngày 12/6/2018. Khi ly hôn anh T yêu cầu Tòa án giao hai con chung cho chị H được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh T không cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Kể từ khi thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định về trình tự thủ tục tố tụng giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì việc xác định mối quan hệ pháp luật cần giải quyết và đương sự trong vụ án là đúng quy định của pháp luật và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, b khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 51, 56, Điều 57, 81,82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ a khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xét xử vắng mặt anh Hoàng Minh T.

2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với anh Hoàng Minh T.

+ Về con chung: Giao hai con chung tên Hoàng Bảo K, sinh ngày 14/5/2015 và Hoàng Bảo K1, sinh ngày 12/6/2018 cho chị Nguyễn Thị Thúy H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc khi có quyết định khác thay thế. Anh Hoàng Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Hoàng Minh T đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được ngăn cản quyền thăm nom và chăm sóc con chung.

Khi cần thiết một trong hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Hoàng Minh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

+ Về án phí sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 31AA/2021/0002835 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Tòa án nhận định:

[I] Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Thúy H có đơn yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Hoàng Minh T. Anh T là bị đơn có hộ khẩu đăng ký thường trú tại Thôn 1, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa anh Hoàng Minh T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[II] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Hoàng Minh T tự nguyện tìm hiểu, được gia đình hai bên đồng ý và có đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 12 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là thị trấn H) huyện B, tỉnh Quảng Bình đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, thời gian đầu chị H và anh T chung sống với nhau hạnh phúc. Khoảng năm 2018, giữa chị H và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn. Năm 2023 anh T bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt mức án tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tháng 7/2023 Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên hình phạt của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với anh Hoàng Minh T và hiện nay anh T đang chấp hành án tại Trại giam T17 ở Thành phố Hồ Chí Minh vì vậy hai người cũng không có biện pháp hàn gắn lại tình cảm. Hiện tại, chị H và anh T đều xác định không còn tình cảm với nhau nên trước yêu cầu ly hôn của chị H anh T đồng ý. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị H và anh T là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh T là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị H và anh T thống nhất giữa anh, chị có có hai con chung tên Hoàng Bảo K, sinh ngày 14/5/2015 và Hoàng Bảo K1, sinh ngày 12/6/2018. Khi ly hôn anh T đồng ý giao hai con chung cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và chị H cũng có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận giao hai con chung tên Hoàng Bảo K, sinh ngày 14/5/2015 và Hoàng Bảo K1, sinh ngày 12/6/2018 cho chị Nguyễn Thị Thúy H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là đảm bảo quyền lợi và phù hợp với nguyện vọng của các đương sự.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con và cam kết đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, ý kiến của chị H là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Hoàng Minh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với anh Hoàng Minh T.

[2] Về con chung: Giao hai con chung tên Hoàng Bảo K, sinh ngày 14/5/2015 và Hoàng Bảo K1, sinh ngày 12/6/2018 cho chị Nguyễn Thị Thúy H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc khi có quyết định khác thay thế.

Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Hoàng Minh T đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được ngăn cản quyền thăm nom và chăm sóc con chung.

Khi cần thiết một trong hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con và cam kết đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Hoàng Minh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 31AA/2021/0002835 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ