vanban.org

Bản án 03/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Y.

1/ Tuyên bố anh Lê Văn H là cha đẻ của cháu trai sinh hồi 12 giờ 30 phút ngày 30/5/2023 theo giấy chứng sinh số 232049, quyển số 21, mã y tế 23020443 cấp ngày 04/6/2023 của Bệnh viện Việt Nam Thuỵ Điển Uông Bí với tên dự sinh là Hà Bin. 2/ Về án phí: anh Lê Văn H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Y.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24-01-2024
V/v Tranh chấp xác định cha cho
con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Mạnh Cường.

Các Hội thẩm Nhân dân: ông Lưu Xuân Giới và ông Nguyễn Văn Bẩy

- Thư ký phiên tòa: bà Phùng Thị Oanh là Thư ký Tòa án Nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thị xã Đông Triều tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Vũ Văn Tấp - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về Tranh chấp xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị Y, sinh năm 1990, nơi thường trú khu C, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1986, nơi thường trú khu L, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Văn K, sinh năm 1983, nơi thường trú khu C, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Hà Thị Y trình bày có nội dung:

Chị Hà Thị Y với anh Đặng Văn K có quan hệ vợ chồng, trong cuộc sống do có nhiều mâu thuẫn nên chị Y và anh K đã sống ly thân nhau mỗi người một nơi từ giữa năm 2021 và đến tháng 8/2023 chị Y chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh K theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 140/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

Trong thời gian chị Y và anh K sống ly thân, chị Y có nảy sinh tình cảm và có quan hệ yêu đương với anh Lê Văn H. Trong thời gian yêu nhau thỉnh thoảng chị Y về nhà anh H tại khu L, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh chơi và sinh sống tại nhà anh H khoảng một tuần. Kết quả chị Y đã có thai với anh H, đến đầu năm 2023 thì về hẳn với anh H tại nhà anh H. Theo giấy chứng sinh số 232049 quyển số 21 ngày 04/6/2023 của Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí chị Hà Thị Y đã sinh một con trai cân nặng 2960 gram vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 30/5/2023, thể hiện họ tên mẹ Hà Thị Y còn phần họ tên cha bỏ trống, dự định đặt tên con Hà Bin.

Để đảm bảo quyền lợi cho cháu có tên dự sinh là Hà Bin, chị Y có đơn đề nghị Tòa án xác định anh Lê Văn H là cha đẻ cháu Hà Bin.

Tại bản tự khai, quá trình làm việc tại Tòa án anh Lê Văn H trình bày: khoảng đầu năm 2022 anh H nảy sinh tình cảm với chị Hà Thị Y, sinh năm 1990, nơi thường trú: khu Cự Minh, xã Điêu Lương, huyển Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, trong thời gian anh H và chị Y yêu nhau, anh H được biết chị Y đang sống ly thân với chồng là anh Đặng Văn K hiện đang sinh sống tại tỉnh Phú Thọ, còn chị Y sinh sống và làm việc tại Hà Nội. Trong thời gian yêu nhau thỉnh thoảng chị Y về nhà anh H chơi và sinh sống tại nhà anh H khoảng một tuần, khoảng cuối năm 2022 anh H biết chị Y có thai với mình, nên tháng 01/2023 anh H đón chị Y về ở hẳn tại nhà mình, đến ngày 30/5/2023 chị Y sinh con với tên dự sinh Hà Bin tại Bệnh viện Việt Nam Thuỵ Điển Uông Bí. Nay chị Y khởi kiện yêu cầu Toà án xác định anh Lê Văn H là cha đẻ của cháu có tên dự sinh Hà Bin, anh H nhất trí và không có ý kiến gì.

Thực hiện quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 162/2023/QĐ-UTTA ngày 25/10/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, ngày 12/12/2023 Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tiến hành lấy lời khai của anh Đặng Văn K thể hiện nội dung:

Anh K có đăng ký kết hôn với chị Hà Thị Y năm 2007 tại UBND xã Điêu Lương, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại thôn Cự Minh, xã Điêu Lương, Cẩm Khê, Phú Thọ đến tháng 4/2022 vợ chồng ly thân nhau, chị Y bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã Đồng Lương, huyện Cẩm Khê, Phú Thọ sinh sống đến ngày 22/8/2023 anh K với chị Y chấm dứt quan hệ vợ chồng theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 140/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Đối với nội dung chị Y đề nghị Tòa án xác định cháu có tên dự sinh là Hà Bin sinh ngày 30/5/2023 là con đẻ của anh Lê Văn H, anh K không có ý kiến gì, anh K khẳng định cháu có tên dự sinh là Hà Bin sinh ngày 30/5/2023 không phải là con đẻ của anh K.

Theo quyết định trưng cầu giám định số 162/2023/QĐ-TCGĐ ngày 09/11/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, ngày 26/12/2023 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh thu mẫu niêm mạc miệng của cháu bé tên dự sinh Hà Bin sinh ngày 30/5/2023 theo giấy chứng sinh số 232049, mã y tế 23020443 cấp ngày 04/6/2023 của Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí và mẫu niêm mạc miệng của anh Lê Văn H sinh ngày 20/12/1986, nơi thường trú khu L, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Tại kết luận giám định số 1821/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: anh Lê Văn H và cháu bé dự kiến đặt tên là Hà Bin có mối quan hệ huyết thống cha đẻ - con đẻ.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đã cơ bản đã thực hiện quy định tại Điều 48, 196, 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa cơ bản tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Những người tham gia tố tụng trong vụ án gồm có nguyên đơn, bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cơ bản đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hà Thị Y về việc xác định anh Lê Văn H là cha đẻ cháu trai sinh hồi 12 giờ 30 phút ngày 30/5/2023 theo giấy chứng sinh số 232049, quyển số 21, mã y tế 23020443 cấp ngày 04/6/2023 của Bệnh viện Việt Nam Thuỵ Điển Uông Bí với tên dự sinh là Hà Bin.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét, đánh giá khách quan toàn diện những tài liệu chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều thụ lý và giải quyết vụ án tranh chấp về xác định cha cho con số: 162/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2023, giữa nguyên đơn chị Hà Thị Y, nơi thường trú thôn C, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ với bị đơn anh Lê Văn H, nơi thường trú khu L, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay chị Y và anh H đều có mặt, anh K vắng mặt (anh K có đề nghị Toà án xét xử vắng mặt), nên Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp phải có Viện kiểm sát tham gia phiên tòa được quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều nghiên cứu và cử Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung tranh chấp: trong thời gian chị Y với anh K sống ly thân nhau, khoảng giữa năm 2021 anh H có quan hệ tình cảm yêu đương chị Y, đến ngày 30/5/2023 chị Y sinh cháu trai sinh hồi 12 giờ 30 phút ngày 30/5/2023 theo giấy chứng sinh số 232049, quyển số 21, mã y tế 23020443 cấp ngày 04/6/2023 của Bệnh viện Việt Nam Thuỵ Điển Uông Bí với tên dự sinh là Hà Bin, đến ngày 22/8/2023 chị Y và anh K đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 140/2023/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, như vậy cháu có tên dự sinh là Hà Bin được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của chị Y với anh K nên chị Y yêu cầu Tòa án xác định anh H là cha đẻ của cháu có tên dự sinh Hà Bin.

Quá trình giải quyết vụ án anh Lê Văn H xác định trong thời gian chị Y sống ly thân với anh K thì khoảng giữa năm 2021 anh H có quan hệ tình cảm yêu đương chị Y rồi hai người về chung sống với nhau tại khu La Dương, phường H Đạo, đến ngày 30/5/2023 chị Y sinh cháu trai, dự định đặt tên Hà Bin, anh H xác định cháu bé có tên dự sinh Hà Bin là con đẻ của mình. Lời trình bày của anh H phù hợp với lời khai của anh Đặng Văn K và của chị Hà Thị Y.

Tại Kết luận giám định số 1821/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận anh Lê Văn H và cháu bé dự kiến đặt tên là Hà Bin có mối quan hệ huyết thống Cha đẻ - Con đẻ.

Kết luận giám định trên của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh về việc xác định quan hệ huyết thống được coi là chứng cứ của vụ án.

Như vậy, với kết quả phân tích ADN theo Kết luận giám định số 1821/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ để xác định: cháu trai sinh hồi 12 giờ 30 phút ngày 30/5/2023 theo giấy chứng sinh số 232049, quyển số 21, mã y tế 23020443 cấp ngày 04/6/2023 của Bệnh viện Việt Nam Thuỵ Điển Uông Bí với tên dự sinh là Hà Bin là con đẻ của anh Lê Văn H. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Y.

[2.4 ] Về án phí: nguyên đơn khởi kiện xin xác định cha cho con chưa thành niên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 thuộc trường hợp được miễn án phí; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.

Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 88; khoản 2 Điều 101; điểm a khoản 3 Điều 102 của luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Y.

1/ Tuyên bố anh Lê Văn H là cha đẻ của cháu trai sinh hồi 12 giờ 30 phút ngày 30/5/2023 theo giấy chứng sinh số 232049, quyển số 21, mã y tế 23020443 cấp ngày 04/6/2023 của Bệnh viện Việt Nam Thuỵ Điển Uông Bí với tên dự sinh là Hà Bin.

2/ Về án phí: anh Lê Văn H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về xác định cha cho con.

3/ Về quyền kháng cáo:

Chị Y và anh H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ