- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "BẢN AN HÔN NHÂN GIA ĐÌNH XUÂN - HÀO LY XÁC ĐỊNH CHA, CON"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X về xác định cha cho con:
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12/01/2024 V/v “Yêu cầu xác định cha, con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Trọng Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến; ông Trịnh Xuân Minh.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Huơng Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 12/01/2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 76/2023/TLST-HNGĐ ngày 26/10/2023 về việc “Yêu cầu xác định cha, con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2023/QĐST-DS ngày 26/12/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị X; sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm 4, xã H, huyện H, tỉnh H. Có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H; sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm 4, xã H, huyện H, tỉnh H. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Thái Hữu D; địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện C, tỉnh H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị X trình bày:
Vào năm 2011, chị X đăng ký kết hôn với anh Thái Hữu D; địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện C, tỉnh H, sau khi cưới cuộc sống hôn nhân nảy sinh nhiều mâu thuẫn, không có hạnh phúc nên chị X và anh D sống ly thân nhau từ năm 2019, đến năm 2022 chị X đã liên hệ Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh giải quyết ly hôn với anh D, đến ngày 24/8/2022 Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh D, theo bản án số 09/2022/HNGĐ-ST.
Từ năm 2022 chị X quen biết và có tình cảm với anh Nguyễn Văn H; địa chỉ xóm 4, xã H, huyện H, tỉnh H. Do chị X nghĩ rằng chị X và anh D đã ly thân từ lâu, Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã giải quyết ly hôn giữa chị X và anh D nên chị X đã chung sống với anh H, đến ngày 29/10/2022 chị X sinh con tại Trung tâm y tế huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh; đến ngày 26/4/2023 chị X và anh H đăng ký kết hôn với nhau. Nhưng khi chị X liên hệ UBND xã để đăng ký khai sinh cho con thì không thể đăng ký khai sinh cho con được, do người con trên chị X mang thai trong thời kỳ hôn nhân với anh D. Vì vậy, chị X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Xác định anh Thái Hữu D không phải là cha đẻ của người người con trai, có tên khai sinh dự kiến là Nguyễn Thành B, do chị X sinh ra vào ngày 29/10/2022, tại Trung tâm Y tế huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh;
+ Xác định anh Nguyễn Văn H là cha đẻ của người con trai, có tên khai sinh dự kiến là Nguyễn Thành B, do chị X sinh ra vào ngày 29/10/2022, tại Trung tâm Y tế huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, để chị X hoàn tất thủ tục khai sinh và làm các giấy tờ khác cho con.
Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp: Bản sao giấy chứng sinh, giấy ra viện, tóm tắ bệnh án, căn cước công dân, giấy chứng nhận kết hôn, bản án số 09/2022/HNGĐ-ST ngày 24/8/2022 của TAND huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh; xác nhận thông tin nơi cư trú; bản tự khai.
Tại văn bản trình bày ý kiến, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:
Anh H thừa nhận các nội dung liên quan đến quá trình quen biết, nảy sinh tình cảm, cũng như quá trình chung sống, sinh con, yêu cầu khởi kiện của chị X là đúng thực tế.
Vào năm 2022, anh H quen biết và có phát sinh tình cảm với chị X. Được biết chị X có chồng là anh Thái Hữu D và đã làm thủ tục ly hôn với anh D nên anh H quyết định chung sống, đăng ký kết hôn với chị X vào ngày 26/4/2023. Do người con chị X sinh ra vào ngày 29/10/2022 tại Trung tâm Y tế huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh là con đẻ của anh H nên chị X đề nghị Tòa án xác định anh H là cha đẻ của người con trai có tên khai sinh dự kiến là Nguyễn Thành B, do chị X sinh ra vào ngày 29/10/2022, tại Trung tâm Y tế huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Các tài liệu, chứng cứ do bị đơn cung cấp: Bản tự khai.
Sau khi thụ lý vụ án, ngày 27/10/2023 Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh ban hành Quyết định ủy thác cho Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thái Hữu D. Tuy nhiên anh Thái Hữu D không có mặt ở nhà nên không tiến hành lấy lời khai được, Tòa án tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định.
Ngày 27/11/2023 Tòa án ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 453/2023/QĐ-TCGĐ để thực hiện giám định quan hệ huyết thống giữa anh Nguyễn Văn H và người con trai, có tên khai sinh dự kiến là Nguyễn Thành B, do chị X sinh ra vào ngày 29/10/2022, tại Trung tâm Y tế huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Tại Kết quả xét nghiệm AND số 4941H/2023 ngày 29/11/2023 của Công ty TNHH Công nghệ Di truyền NOVAGEN kết luận: Anh Nguyễn Văn H có quan hệ huyết thống bố - con với Nguyễn Thành B, độ tin cậy trên 99,99%.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu chứng cứ và hòa giải nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thái Hữu D không có mặt, không trình bày ý kiến. Do đó vụ án không tiến hành hòa giải được, buộc Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, kiểm sát việc tuân theo pháp luật có ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi Tòa án tiến hành thụ lý đơn, giải quyết vụ án cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS, nguyên đơn; bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện các quy định của pháp luật;
- Về ý kiến giải quyết nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, đối chiếu với các quy định của pháp luật có cơ sở đề nghị HĐXX:
Xác định anh Thái Hữu D không phải là cha đẻ của người con trai, có tên khai sinh dự kiến là Nguyễn Thành B, do chị X sinh ra vào ngày 29/10/2022; Xác định anh Nguyễn Văn H là cha đẻ của người con trai, có tên khai sinh dự kiến là Nguyễn Thành B, do chị X sinh ra vào ngày 29/10/2022, tại Trung tâm Y tế huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX miễn án phí xác định cha, con cho chị Xuân theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Chị Nguyễn Thị X có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hương Khê giải quyết xác định cha cho con, quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn H có địa chỉ cư trú tại xóm 4, xã H, huyện H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và thông báo hòa giải cho các bên đương sự nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thái Hữu D không có mặt tại các buổi hòa giải. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thái Hữu D nhưng anh D đã 02 lần vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị X, HĐXX thấy: Chị Nguyễn Thị X và anh Thái Hữu D là vợ chồng hợp pháp, đến tháng 8/2022 mới chấm dứt hôn nhân theo bản án số 09/2022/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Việc chị X sinh con vào ngày 29/10/2022 tại Trung tâm Y tế huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh thuộc trường hợp “Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân”, theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng”, như vậy theo quy định pháp luật, người con do chị X sinh ra vào ngày 29/10/2022 là con chung của chị X và anh D.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, chị X và anh H đều khẳng định người con trên là con chung của chị X và anh H; căn cứ Kết quả xét nghiệm AND số 4941H/2023 ngày 29/11/2023 của Công ty TNHH Công nghệ Di truyền NOVAGEN đã kết luận anh Nguyễn Văn H có quan hệ huyết thống bố - con với Nguyễn Thành B, với độ tin cậy trên 99,99%. Vì vậy, HĐXX có cơ sở chấp nhận yêu cầu xác định cha, con của chị X: Xác định anh Thái Hữu D không phải là cha đẻ của người con trai, có tên khai sinh dự kiến là Nguyễn Thành B, do chị X sinh ra vào ngày 29/10/2022, tại Trung tâm Y tế huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh; đồng thời, xác định anh Nguyễn Văn H là cha đẻ của người con trai, có tên khai sinh dự kiến là Nguyễn Thành B, do chị X sinh ra vào ngày 29/10/2022, tại Trung tâm Y tế huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị X.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 88, Điều 89, Điều 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X về xác định cha cho con:
Xác định anh Thái Hữu D không phải là cha đẻ của người con trai, có tên khai sinh dự kiến là Nguyễn Thành B, do chị X sinh ra vào ngày 29/10/2022, tại Trung tâm Y tế huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh;
Xác định anh Nguyễn Văn H là cha đẻ của người con trai, có tên khai sinh dự kiến là Nguyễn Thành B, do chị X sinh ra vào ngày 29/10/2022, tại Trung tâm Y tế huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Nguyễn Thị X.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị X; anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Thái Hữu D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Hương Khê; - UBND xã Hà Linh; - Chi cục THADS Hương Khê; - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - Lưu hồ sơ +VP-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Lê Trọng Hùng |