- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận y u cầu kháng cáo của nguyên đơn Ông Hà Tấn S.
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/HNGĐ-PT Ngày: 12-01-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Mỹ Hương.
Các Thẩm phán:
Ông Đoàn Hoài Trí;
Ông Bùi Ngọc Thạch.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Phương Hợp - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- i di n Vi n Ki m t nh n d n t nh nh Dư ng tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên - i m sát vi n.
Ngày 12 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 71/2023/TLPT-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 67/2023/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 69/2023/QĐ-PT ngày 25 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Hà Tấn S, sinh năm 1987; địa chỉ: khu vực A, xã Nh, thị xã A, tỉnh B, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu H – Luật sư Công ty Luật TNHH MTV Luật Việt Nguyễn Hoàng thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
2. Bị đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1994; địa chỉ: khu phố 1, phường T, thị xã B, tỉnh B, có mặt.
3. Người kháng cáo: Nguy n đơn Ông Hà Tấn S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Ông Hà Tấn S trình bày:
Qua thời gian tìm hi u, Ông S và Bà H tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 29 tháng 12 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân phường Nh, thị xã A, tỉnh B. Hôn nhân tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Đầu năm 2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan đi m, Bà H nhiều lần cho rằng Ông S sống vô tâm, không có trách nhiệm với gia đình, Bà H tự quyết định các vấn đề mà không hỏi ý kiến của Ông S, Bà H không tôn trọng Ông S. Vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Vì mâu thuẫn tr n, Bà H đã mang theo hai con chung về ở nhà cha mẹ ruột tại tỉnh Bình Dương. Ông S nhiều lần điện thoại nói Bà H và thậm chí đến nhà cha mẹ ruột của Bà H đ nói bà quay về tỉnh Bình Định sống cùng ông nhưng Bà H không đồng ý. hi biết như vậy, Ông S đề nghị Bà H cho ông đem hai con chung về tỉnh Bình Định đ sống cùng ông nhưng Bà H chỉ đồng ý cho Ông S đem cháu Hà Võ Thanh Tr về tỉnh Bình Định. Tháng 02 năm 2023, Ông S làm thủ tục nhập học cho cháu Tr thì Bà H tự ý đến trường và đem cháu về tỉnh Bình Dương mà không hỏi ý kiến Ông S. Tháng 02 năm 2023 cho đến nay, Bà H chỉ đồng ý cho Ông S đến thăm con nhưng không cho ông dẫn con chung đi chơi, cũng không cho Ông S được quyền nuôi con chung. Hiện nay, hai con chung do Bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Vì không còn tình cảm với Bà H nên Ông S y u cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với Bà H.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có hai con chung t n: Hà Võ Thanh Tr, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2018 và Hà Võ Gia H, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2021. Ly hôn, Ông S y u cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung. Ông S không y u cầu Bà H cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông S đang làm nhân vi n kinh doanh cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát tri n Giang Thành. Thu nhập: Từ 9.000.000 đồng đến 11.000.000 đồng/tháng. Ngoài ra, hàng tháng, Ông S được công ty thưởng th m số tiền khoảng từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng (số tiền này không nằm trong hợp đồng lao động). Thời gian làm việc: Từ 08 giờ đến 17 giờ. Ông S làm việc vào giờ hành chính, thời gian này các con đi học ở trường; ngoài thời gian các con đi học thì mẹ ruột của Ông S cũng phụ giúp Ông S chăm sóc con chung.
Trước đó, Bà H không đi làm. hoảng từ 02 đến 03 tháng nay, Ông S biết Bà H đang làm nhân vi n cho công ty bảo hi m (không rõ thu nhập, thời gian làm việc và thông tin công ty). Bà H đang sống cùng cha mẹ ruột và em ruột. Nơi Bà H đang ở có nhiều người sống cùng nhau, không có không gian rộng rãi, con chung không th đi ra b n ngoài vui chơi mà chỉ ở trong nhà xem điện thoại. Trong khi đó, cháu Tr đang bị bệnh tăng động, không được xem điện thoại nhiều n n môi trường sống như vậy sẽ không cải thiện được bệnh của cháu.
Về tài sản chung, nợ chung: hông tranh chấp, không y u cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn Bà Võ Thị H trình bày:
Qua thời gian tìm hi u, Bà H và Ông S tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 29 tháng 12 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân phường Nh, thị xã A, tỉnh B. Hôn nhân tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Năm 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan đi m sống, Ông S sống vô tâm, không tôn trọng Bà H, không minh bạch về tài chính, thỉnh thoảng Ông S còn đánh bạc. Vợ chồng không có cuộc sống ri ng tư do mà phải sống cùng với mẹ và anh chồng. Vợ chồng còn mâu thuẫn về cách chăm sóc, nuôi dưỡng con chung do con chung của Ông S và Bà H bị bệnh hen suyễn từ nhỏ nhưng gia đình chồng lại nuôi nhiều chó mèo và gia cầm, chế độ ăn uống không dinh dưỡng; khí hậu, thời tiết nhiều bão lũ, ảnh hưởng đến bệnh tình của con chung.
Vì mâu thuẫn tr n, vợ chồng thường cãi nhau. Do Bà H không chịu đựng được và muốn có môi trường tốt đ điều trị bệnh cho con chung n n tháng 10 năm 2022, Bà H đã mang hai con chung về tỉnh Bình Dương đ sinh sống. Ông S nhiều lần điện thoại, nhắn tin nói Bà H về tỉnh Bình Định sống cùng Ông S nhưng vì vợ chồng có mâu thuẫn không th hàn gắn được và môi trường sống không tốt cho con n n Bà H không đồng ý. Đầu năm 2023, Ông S đến tỉnh Bình Dương xin phép cha mẹ Bà H mang cháu Hà Võ Thanh Tr về tỉnh Bình Định chơi khoảng hai tuần. Tuy nhi n, sau đó, Ông S không giao cháu Tr lại cho Bà H. Khi Bà H đi làm từ thiện tại trường của cháu Tr đang học thì cháu thấy Bà H n n đã tự ra gặp và đi theo Bà H về Bình Dương.
Nay vì không còn tình cảm với Ông S, Bà H đồng ý ly hôn với Ông S.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng hai con chung t n: Hà Võ Thanh Tr, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2018 và Hà Võ Gia H, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2021. hi ly hôn, Bà H y u cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung. Bà H không y u cầu Ông S cấp dưỡng nuôi con chung.
Quá trình vợ chồng sống ly thân, hai con chung do Bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu Tr và Hân học tại Trường Mầm non Ánh Sao từ tháng 11 năm 2022 cho đến nay. Bà H đang làm nhân vi n văn phòng của Công ty TNHH Link Finance Việt Nam. Thu nhập: 20.000.000 đồng/tháng. Thời gian làm việc trong hợp đồng là: Từ 08 giờ 30 phút đến 12 giờ, chiều từ 13 giờ đến 17 giờ 30 phút. Tuy nhi n, thực tế thì Bà H làm việc tại nhà với thời gian từ 08 giờ 30 phút đến 11 giờ 30 phút. Một tuần, Bà H có đến công ty làm việc 03 lần. Thời gian làm việc ở công ty như thời gian làm việc tại nhà. Ngoài ra, Bà H còn làm việc cho Công ty TNHH Bảo hi m nhân thọ Cathay Việt Nam. Thu nhập: 15.000.000 đồng/tháng. Công việc không ràng buộc về mặt thời gian.
Trong thời gian Bà H làm việc, cháu Tr và Hân còn có mẹ ruột Bà H phụ giúp chăm sóc. Bà H đang sống cùng 02 con tr n căn nhà do mẹ Bà H xây dựng nhưng giao cho Bà H ở, quản lý. Nơi ở và môi trường sống của Bà H tốt, không như Ông S trình bày.
Về tài sản chung, nợ chung: hông tranh chấp, không y u cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 67/2023/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần y u cầu khởi kiện của nguy n đơn Ông Hà Tấn S đối với bị đơn Bà Võ Thị H về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Về hôn nhân: Ông Hà Tấn S được ly hôn với Bà Võ Thị H.
- Về con chung: Giao con chung t n Hà Võ Thanh Tr, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2018 và Hà Võ Gia H, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2021 cho Bà Võ Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Hà Tấn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Hà Tấn S và Bà Võ Thị H đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Ông Hà Tấn S được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo y u cầu của một hoặc cả hai b n, Tòa án có th thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: hông tranh chấp n n không y u cầu Tòa xem xét giải quyết.
2. hông chấp nhận y u cầu của nguy n đơn Ông Hà Tấn S về việc y u cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung t n: Hà Võ Thanh Tr, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2018 và Hà Võ Gia H, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2021.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuy n về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023, nguy n đơn Ông S kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về tranh chấp con chung.
Tại phi n tòa phúc thẩm: Nguyên đơn có đơn y u cầu xét xử vắng mặt và có ý kiến giữ nguy n y u cầu khởi kiện và y u cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận, hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguy n đơn trình bày: Ông S cho rằng Bà H cung cấp thu nhập đ đảm bảo kinh tế nuôi con ở cấp sơ thẩm là không đúng. Thực tế hàng tháng Bà H không y u cầu cấp dưỡng thì Ông S vẫn gửi tiền. Tòa không cho Ông S nuôi dưỡng 2 cháu thì chấp nhận cho Ông S nuôi 01 cháu Hà Võ Thanh Tr. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận y u cầu kháng cáo của nguy n đơn.
Đại diện Viện i m sát phát bi u ý kiến:
Về tố tụng: Những người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm tuy n giao 02 con cho Bà H nuôi dưỡng là có cơ sở, kháng cáo của Ông S là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguy n bản án sơ thẩm.
Sau khi nghi n cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phi n tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phi n tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của Ông S làm trong thời hạn kháng cáo n n hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 67/2023/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã giải quyết cho Ông S được ly hôn với Bà H. Phần quyết định của bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân không bị kháng cáo, kháng nghị n n đã phát sinh hiệu lực pháp luật. Căn cứ quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét về tranh chấp con chung.
Về nội dung:
Về con chung: Ông S và Bà H có 02 con chung tên Hà Võ Thanh Tr, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2018 và Hà Võ Gia H, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2021. Hiện nay cháu Tr và cháu H đang do Bà H chăm sóc, nuôi dưỡng.
Xét về điều kiện kinh tế: Đối với Ông S, Ông S đang làm nhân vi n kinh doanh cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát tri n Giang Thành với thu nhập từ 9.000.000 đồng đến 11.000.000 đồng/tháng. Đối với Bà H, theo Hợp đồng lao động ngày 01 tháng 9 năm 2022, 01 tháng 9 năm 2023 ký giữa Bà H với Công ty TNHH Link Finance, Thư xác nhận thu nhập năm 2023 của Công ty TNHH Link Finance th hiện Bà H đang làm việc cho Công ty TNHH Link Finance với thu nhập là 20.000.000 đồng/tháng; ngoài ra, Bà H còn làm th m tại Công ty TNHH Bảo hi m nhân thọ Cathay Việt Nam, công việc không bị ảnh hưởng về mặt thời gian. Tại bi n bản xác minh ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại Ủy ban nhân dân phường Tân Định th hiện Bà H sống chung với cha mẹ của Bà H tại căn nhà có dãy nhà trọ phía sau gắn liền với phần đất do cha mẹ Bà H quản lý, sử dụng.
Như vậy, Bà H và Ông S có điều kiện sinh sống và điều kiện kinh tế đủ đ nuôi con. Việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo điều kiện tốt nhất cho sự phát tri n của con chung. Hiện nay cháu Hà Võ Gia H, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2021 dưới 36 tháng tuổi; căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Tòa án cấp sơ thẩm giao cháu H cho Bà H nuôi dưỡng là có căn cứ. Đối với cháu Hà Võ Thanh Tr, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2018 hiện nay chỉ mới hơn 5 tuổi; cháu đang sinh sống cùng với Bà H và học tập tại trường tr n địa bàn tỉnh Bình Dương; đ đảm bảo sự ổn định về nơi sinh sống, học tập và tạo điều kiện cho cháu Tr và cháu H được sống cùng với nhau, đ anh em được y u thương và chăm sóc lẫn nhau. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm giao cháu Tr và cháu H cho Bà H chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp, có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không y u cầu giải quyết n n Toà án không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không tranh chấp và không y u cầu Tòa án giải quyết.
Kháng cáo của Ông S là không có căn cứ.
Đề nghị của đại diện Viện ki m sát tại phi n tòa là phù hợp.
Án phí phúc thẩm: Do không chấp nhận y u cầu kháng cáo của Ông S nên Ông S phải chịu.
Vì các lẽ tr n,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
1. Không chấp nhận y u cầu kháng cáo của nguyên đơn Ông Hà Tấn S.
2. Giữ nguy n Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 67/2023/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát. Cụ th :
2.1. Chấp nhận một phần y u cầu khởi kiện của nguy n đơn Ông Hà Tấn S đối với bị đơn Bà Võ Thị H về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Về hôn nhân: Ông Hà Tấn S được ly hôn với Bà Võ Thị H.
- Về con chung: Giao con chung t n Hà Võ Thanh Tr, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2018 và Hà Võ Gia H, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2021 cho Bà Võ Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Hà Tấn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Hà Tấn S và Bà Võ Thị H đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Ông Hà Tấn S được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo y u cầu của một hoặc cả hai b n, Tòa án có th thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: hông tranh chấp n n không y u cầu Tòa xem xét giải quyết.
2.2. hông chấp nhận y u cầu của nguy n đơn Ông Hà Tấn S về việc y u cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung tên: Hà Võ Thanh Tr, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2018 và Hà Võ Gia H, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2021.
2.3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hà Tấn S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại Bi n lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0012071 ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Hà Tấn S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Bi n lai thu số 0012276 ngày 02/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuy n án./.
THẨM PHÁN
| Đoàn Hoài Trí Bùi Ngọc Thạch | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣu Thị Mỹ Hƣơng |