- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phan Thị N và Trần Thị B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH B NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2024/DS-ST Ngày: 26/12/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH B NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Minh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Tuyến
Bà Phan Thị Nhụ
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Khánh – Thư ký TAND thị xã Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 96/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị N, sinh năm 1956. Vắng mặt.
HKTT: thôn Văn Phong, xã Châu Phong, thị xã Quế Võ, tỉnh B Ninh.
- Bị đơn: Bà Trần Thị B, sinh năm 1964. Vắng mặt.
HKTT: thôn Văn Phong, xã Châu Phong, thị xã Quế Võ, tỉnh B Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn là bà Phan Thị N trình bày:
Bà N và bà Trần Thị B (chồng tên là Nguyễn Đức Quảng) có quan hệ hàng xóm với nhau. Ngày 30/11/2027 âm lịch, bà N có cho bà B vay số tiền là 21.270.000 đồng, không tính tiền lãi, thỏa thuận đến khi nào bà N cần thì bà B phải trả lại bà N tiền. Đến năm 2018 bà N yêu cầu bà B trả tiền nhưng bà B chưa trả được, nên bà N có lập giấy vay tiền nội dung tiếp tục cho bà B vay số tiền trên, bà B đã ký vào giấy này. Tuy nhiên từ đó đến nay bà B chưa trả được bà N bất cứ khoản tiền nợ nào. Do đó bà N đề nghị Tòa án buộc bà B phải trả lại bà N số tiền còn nợ là 21.270.000 đồng.
* Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho bị đơn là bà Trần Thị B. Tuy nhiên bà B không đến Toà án làm việc và cũng không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà N.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành tốt nghĩa vụ trong việc tham gia tố tụng. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 116, 117, 463, 466, 469 Bộ luật Dân sự; Điều 26, 35, 39, 147, 186, 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N.
Buộc Bà Trần Thị B phải trả lại bà N số tiền 21.270.000 (Hai mươi mốt triệu hai trăm bảy mươi nghìn) đồng đã vay.
2. Về án phí: Bà B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng: Bà Phan Thị N khởi kiện bà Trần Thị B (có địa chỉ tại: thôn Văn Phong, xã Châu Phong, thị xã Quế Võ, tỉnh B Ninh) yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Quế Võ.
Bà N đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bà B đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Ngày 30/11/2017 âm lịch, bà N cho bà B vay số tiền 21.270.000 đồng và không tính lãi, thỏa thuận với nhau rằng khi nào bà N cần thì bà B sẽ trả. Tuy nhiên sau đó bà N đã nhiều lần yêu cầu bà B trả tiền, nhưng đến nay bà B chưa trả được nợ cho bà N. Như vậy, việc bà N yêu cầu bà B phải trả nợ số tiền 21.270.000 đồng đã vay là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí: Bà B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 116, 117, 463, 466, 469 Bộ luật Dân sự; Điều 26, 35, 39, 147, 186, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N.
Buộc bà Trần Thị B phải trả lại bà Phan Thị N số tiền 21.270.000 đồng (hai mươi mốt triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng) đã vay.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí: Bà B phải chịu 1.063.500 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Quế Võ; - Chi cục THADS thị xã Quế Võ; - Đương sự; - Lưu hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Minh Đức |