vanban.org

Bản án 03/2024/DS-ST — Tranh chấp cá nhân

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp cá nhân — án dân sự — "Lâm Thị Lúi - Lâm Văn Phước"
  • Tòa quyết gì? 39, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/DS-ST
Ngày 20/02/2024.
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Nhựt

Ông Nguyễn Thành Thái

Thư ký phiên tòa ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Như Ngọc - Thư ký TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Ngày 20 tháng 02 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 166/2023/TLST- DS ngày 11 tháng 9 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-DS, ngày 02/01/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐST- DS ngày 19/01/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Lâm Thị L, sinh năm 1967.

Địa chỉ: Ấp B H, xã MH, huyện C T, tỉnh K G.

* Bị đơn: Ông Lâm Văn Ph, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Ấp H Th, xã M H, huyện C T, tỉnh K G

(Bà L có mặt; ông Ph vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lâm Thị L trình bày như sau: Năm 2015, 2016 bà có bán phân bón, thuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thực vật cho ông Lâm Văn Ph. Trong quá trình mua bán với nhau ông Ph còn nợ lại bà số tiền là 16.000.000 đồng. Bà đã yêu cầu ông Ph thanh toán nợ cho bà nhưng ông Ph không thực hiện. Ngày 02/9/2021 bà có yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết. Tại biên bản hòa giải cở sở ngày 02/9/2021 của ấp Hòa Lợi, xã Bình An, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang thì ông Ph đồng ý trả cho bà tiền nợ vật tư nông nghiệp và tiền lãi từ năm 2016 cho đến năm 2021 là 25.600.000 đồng. Đến ngày 6/9/2021 ông Ph đã trả cho bà được 4.000.000 đồng, còn nợ lại 21.600.000 đồng thì không thực hiện nữa. Nay bà yêu cầu ông Lâm Văn Ph trả cho bà số tiền mua vật tư nông nghiệp còn nợ là 21.600.000 đồng (Hai mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng) và tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp luật kể từ ngày 06/9/2021 cho đến khi kết thúc vụ án.

Ngoài ra, bà không yêu cầu ai khác có trách nhiệm liên đới trả nợ cùng ông Ph.

* Bị đơn ông Lâm Văn Ph: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án không nhận được văn bản thể hiện ý kiến cũng như yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa:

- Bà L trình bày: Bà xác định số tiền 4.000.000 đồng ông Ph trả vào ngày 06/9/2021 là trả nợ gốc. Như vậy, ông Ph còn nợ bà tiền gốc là 12.000.000 đồng và tiền lãi là 9.6000.000 đồng. Tổng cộng là 21.6000.000 đồng. Nay bà yêu cầu ông Ph trả cho bà số tiền là 21.600.000 đồng và yêu cầu tính tiền lãi theo quy định pháp luật đối với số tiền 12.000.000 đồng kể từ ngày 06/9/2021 cho đến nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn thì đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn có nơi cư trú tại huyện Châu Thành nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Ông Lâm Văn Ph là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Ph là đúng quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của bà L, Hội đồng xét xử thấy giữa bà L và ông Ph có thực hiện việc mua bán vật tư tư nông nghiệp với nhau vào năm 2015, 2016 là đúng sự thật. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện bà L đã cung cấp cho Tòa án Biên bản hòa giải cơ sở ngày 02/9/2021 (bút lục 02, 03). Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông Ph không có bất cứ sự phản hồi nào đối với yêu cầu của nguyên đơn nên căn cứ theo khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định nghĩa vụ chứng minh của đương sự “Đương sự phản hồi yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản hoặc phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản hồi đó”. Như vậy, xem như ông Ph đã mặc nhiên thừa nhận các tài liệu chứng cứ do bà L cung cấp cho Tòa án. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà L là có cơ sở để chấp nhận.

Về lãi suất: Xét yêu cầu tính lãi của bà L đối với số tiền 12.000.000 đồng theo lãi suất do Ngân hàng nhà nước quy định. HĐXX xét thấy, yêu cầu tính lãi của bà L là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận. Cụ thể lãi suất được tính như sau: 12.000.000 đồng x 29 tháng, 14 ngày x 0.833%/tháng (tính từ ngày 06/9/2021 đến ngày 20/02/2024) = 2.945.500 đồng (làm tròn).

Như vậy, tổng cộng tiền gốc và tiền lãi buộc ông Ph phải trả cho bà L là 24.545.500 đồng (Trong đó, nợ gốc là 12.000.000 đồng và lãi là 12.545.500 đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch:

Án phí được tính như sau: 24.545.500 đồng x 5% = 1.227.300 đồng (làm tròn).

Buộc ông Ph phải chịu án phí là 1.227.300 đồng.

Bà L không phải chịu án phí do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Căn cứ các Điều 430, Điều 440 và Điều 357 Bộ Luật dân sự 2015 .

- Căn cứ Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị L.

Buộc ông Lâm Văn Ph phải trả cho bà Lâm Thị L số tiền nợ gốc là 12.000.000 đồng và lãi là 12.545.500 đồng. Tổng cộng là 24.545.500 đồng (Hai mươi bốn triệu, năm trăm bốn mươi lăm nghìn, năm trăm đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà L cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng ông Ph còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phai thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015.

2/ Về án dân sự giá ngạch: Ông Ph phải chịu là 1.227.300 đồng.

Trả lại cho bà Lâm Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp 540.000 đồng theo biên lai thu số: 0000984 ngày 11/9/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

3/ Quyền kháng cáo: Bà L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Ph có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ