- Tranh chấp gì? Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng A - Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với anh Nguyễn Thế C và chị Phạm Thị Mỹ B về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/KDTM-ST Ngày: 21/7/2023 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Chí Nguyện
Bà Cao Thị Mỹ Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 108/2023/TLST- DS ngày 28 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng A
Hội sở: Số 108, đường Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phan Trung V, chức vụ: Trưởng phòng
Phòng giao dịch H, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
- Đồng bị đơn: Bà Phạm Thị Mỹ B, sinh năm 1995
Anh Nguyễn Thế C, sinh năm 1995
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
- Người có quyền lợi, nghĩ vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1974
+ Bà Dương Xèm Ch, sinh năm 1971
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
+ Cháu Nguyễn Thị Mỹ Th, sinh năm 2010
Người đại diện theo pháp luật của cháu Th: Chị Phạm Thị Mỹ B, anh Nguyễn Thế C. Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
(anh V có mặt; các đương sự còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 13/4/2023 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 31/5/2023, các lời khai trong hồ sơ nguyên đơn Ngân hàng A (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) – Người đại diện theo ủy quyền anh Phan Trung V trình bày: Ngày 26/4/2022 Ngân hàng cùng anh Nguyễn Thế C và chị Phạm Thị Mỹ B có ký hợp đồng tín dụng số HP-79-016/2022-HĐTDMH/NHCT862, ngày 26/4/2022, số tiền anh C và chị B vay của Ngân hàng là 2.100.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi trong hạn là ghi trên từng giấy nhận nợ và có giá trị kể từ thời điểm giải ngân cho đến khi có sự điều chỉnh lãi suất theo nguyên tắc xác định tại hợp đồng cho vay. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Mục đích vay bổ sung vốn lưu động thu mua tôm nguyên liệu.
Để đảm bảo cho khoản vay cho anh C và chị B thì ông Nguyễn Văn H và bà Dương Xèm Ch có ký 02 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất:
Hợp đồng số: HP – 54-028/2019/HĐBĐ/NHCT862 ngày 14/10/2019 tài sản thế chấp gồm có:
- Tài sản thứ nhất: Quyền sử dụng đất diện tích 96m2 thuộc thửa 0573, 0591, tờ bản đồ 03 đất ở ấp B, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu; quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số Y684685 do UBND huyện R (nay là thị xã R cấp cho ông Nguyễn Văn H, ngày 24/02/2004; đăng ký thay đổi ngày 10/5/2017).
- Tài sản thứ hai: Quyền sử dụng đất diện tích 124,4m2 thuộc thửa 190, tờ bản đồ 76 đất ở ấp ấp B, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu; quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CI 050382 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bạc Liêu cấp cho ông Nguyễn Văn H và bà Dương Xem Ch, ngày 05/01/2018.
- Tài sản thứ ba: Quyền sử dụng đất diện tích 178,9m2 thuộc thửa 139, tờ bản đồ 76 đất ở ấp B, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu; quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CN 612798 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bạc Liêu cấp cho ông Nguyễn Văn H và bà Dương Xem Ch, ngày 15/5/2018.
Hợp đồng số: HP – 54-021/2021/HĐBĐ/NHCT862 ngày 22/4/2021: Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất diện tích 195,9m2 thuộc thửa 138, tờ bản đồ 76 đất ở ấp ấp B, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu; quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DA 843514 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bạc Liêu cấp cho ông Nguyễn Văn H, ngày 28/01/2021.
Hợp đồng tín dụng đã hết hạn thanh toán nhưng anh C và chị B không thanh toán nợ gốc và lãi cho Ngân hàng, người vay đã vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận. Do đó, Ngân hàng yêu cầu Toà án giải quyết buộc anh C và chị B phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn gốc vay 2.100.000.000 đồng; lãi trong hạn: 134.843.918 đồng; lãi quá hạn phát sinh tính đến ngày 20/7/2023 là 21.043.176 đồng và lãi phát sinh từ ngày 21/7/2023 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà anh C và chị B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn anh Nguyễn Thế B và chị Phạm Thị Mỹ C: Đã được Toà án triệu tập hợp lệ để làm việc nhưng đều vắng mặt, không có lý do chính đáng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án ông Nguyễn Văn H và bà Dương Xèm Ch: Đã được Toà án triệu tập hợp lệ để làm việc nhưng đều vắng mặt, không có lý do chính đáng.
Tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc gửi các văn bản cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng thời hạn. Tại phiên tòa hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Từ khi thụ lý đến khi xét xử những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên áp dụng Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 30, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và các Điều 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng; buộc anh Nguyễn Thế C và chị Phạm Thị Mỹ B có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn gốc vay 2.100.000.000 đồng; lãi trong hạn: 134.843.918 đồng; lãi quá hạn phát sinh tính đến ngày 20/7/2023 là 21.043.176 đồng và lãi phát sinh từ ngày 21/7/2023 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà anh C và chị B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ yêu cầu của đương sự tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp: Ngân hàng A và anh Nguyễn Thế C, chị Phạm Thị Mỹ B có quan hệ hợp đồng tín dụng, anh C và chị B vay để bổ sung vốn lưu động thu mua tôm nguyên liệu. Anh C có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể, mục đích giao kết hợp đồng vay đều để phát sinh lợi nhuận. Do đó, quan hệ tranh chấp thuộc án kinh doanh thương mại theo quy định tại Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh C và chị B , cư trú tại ấp Khúc Tréo B, xã Phong Tân Phong, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ khoản điểm b khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân thị xã Giá Rai.
Về tố tụng: Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung vụ án:
Căn cứ hợp đồng tín dụng HP-79-016/2022-HĐTDMH/NHCT862, ngày 26/4/2022 và bản sao kê khoản nợ, lãi của Ngân hàng giao nộp cho Tòa án, có căn cứ xác định Ngân hàng có cho anh C và chị B vay số tiền vay 2.100.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi trong hạn là ghi trên từng giấy nhận nợ và có giá trị kể từ thời điểm giải ngân cho đến khi có sự điều chỉnh lãi suất theo nguyên tắc xác định tại hợp đồng cho vay. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Mục đích vay bổ sung vốn lưu động thu mua tôm nguyên liệu.
Căn cứ bản sao kê theo dõi của Ngân hàng, hợp đồng tín dụng đã hết hạn thanh toán nhưng anh C và chị B không thanh toán vốn gốc và lãi nên anh C và chị B đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc anh C và chị B phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn gốc vay 2.100.000.000 đồng; lãi trong hạn: 134.843.918 đồng; lãi quá hạn phát sinh tính đến ngày 20/7/2023 là 21.043.176 đồng tổng là: 2.255.887.094 đồng và lãi phát sinh từ ngày 21/7/2023 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Để bảo đảm cho khoản tiền vay của anh C và chị B thì ông Hưng và bà Chu đã ký 02 Hợp đồng thế chấp số HP – 54-028/2019/HĐBĐ/NHCT862 ngày 14/10/2019 và Hợp đồng thế chấp số: HP – 54-021/2021/HĐBĐ/NHCT862 ngày 22/4/2021: Thế chấp 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho ông H và bà Ch. Hội đồng xét xử xem xét hợp đồng thế nhận thấy: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông H và bà Ch, khi ký kết hợp đồng thế chấp ông H và bà Ch là người trực tiếp quản lý sử dụng và tài sản gắn liền với đất đã ký kết hợp đồng. Tại biên bản thẩm định tại chỗ ngày 18/5/2023 ông H, bà Ch và anh C đều thống nhất xác định tài sản gắn liến với đất có trước thời điểm thế chấp cho ngân hàng và hiện tại các tài sản gắn liền với đất không có gì thay đổi so với thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp. Hiện tại ông H, bà Ch, anh C , chị B và cháu Th là người trực tiếp quản lý sử dụng. Hợp đồng thế chấp các bên đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về công chứng, chứng thực, đã được đăng ký giao dịch bảo đảm Việc đăng ký giao dịch bảo đảm giữa Ngân hàng và ông H và và Ch thực hiện theo đúng các quy định. Do đó, trong trường hợp xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý đối với tài sản gắn liền với đất.
Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu được xử lý tài sản thế chấp khi anh C và chị B không thanh toán đầy đủ nợ cho Ngân hàng.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R là phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là anh C và chị B phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngân hàng không phải chịu án phí.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã chi hết 600.000 đồng: Ngân hàng đã dự nộp 600.000 đồng. Căn cứ Điều 157 và Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 anh C và chị B phải chịu.
Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch anh C và chị B phải chịu là 77.117.742 đồng.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 30, 35, 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
- Các Điều 463, 465, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Các Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với anh Nguyễn Thế C và chị Phạm Thị Mỹ B về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
2. Buộc anh Nguyễn Thế C và chị Phạm Thị Mỹ B có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng A số tiền 2.255.887.094 đồng. Trong đó, tiền nợ gốc 2.100.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn: 134.843.918 đồng; tiền nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 20/7/2023 là 21.043.176 đồng.
Kể từ ngày 21/7/2022 anh Nguyễn Thế C và chị Phạm Thị Mỹ B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà anh Nguyễn Thế C và chị Phạm Thị Mỹ B phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, anh Nguyễn Thế C và chị Phạm Thị Mỹ B không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng A thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là các quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cụ thể như sau:
- Tài sản thứ nhất: Quyền sử dụng đất diện tích 96m2 thuộc thửa 0573, 0591, tờ bản đồ 03 đất ở ấp B, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu; quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số Y684685 do UBND huyện R (nay là thị xã R cấp cho ông Nguyễn Văn H, ngày 24/02/2004; đăng ký thay đổi ngày 10/5/2017).
- Tài sản thứ hai: Quyền sử dụng đất diện tích 124,4m2 thuộc thửa 190, tờ bản đồ 76 đất ở ấp B, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu; quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CI 050382 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bạc Liêu cấp cho ông Nguyễn Văn H và bà Dương Xèm Ch, ngày 05/01/2018.
- Tài sản thứ ba: Quyền sử dụng đất diện tích 178,9m2 thuộc thửa 139, tờ bản đồ 76 đất ở B, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu; quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CN 612798 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bạc Liêu cấp cho ông Nguyễn Văn H và bà Dương Xèm Ch, ngày 15/5/2018.
Tài sản thứ tư: Quyền sử dụng đất diện tích 195,9m2 thuộc thửa 138, tờ bản đồ 76 đất ở ấp B, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu; quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DA 843514 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bạc Liêu cấp cho ông Nguyễn Văn H, ngày 28/01/2021.
4. Buộc Ông Nguyễn Văn H, bà Dương Xèm Ch, anh Nguyễn Thế C , chị Phạm Thị Mỹ B , cháu Nguyễn Thị Mỹ Th có trách nhiệm giao tài sản thế chấp đã nêu ở mục 3 tại phần Quyết định của bản án để thực hiện nghĩa vụ phát mãi tài sản khi có đơn yêu cầu.
5. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 600.000 đồng: Buộc anh Nguyễn Thế C và chị Phạm Thị Mỹ B có trách nhiệm hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam số tiền 600.000 đồng.
6. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
6.1. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch buộc anh Nguyễn Thế C và chị Phạm Thị Mỹ B cùng phải chịu 77.117.742 đồng.
6.2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm Ngân hàng A không phải chịu, Ngân hàng A đã dự nộp tạm ứng án phí 37.000.000 đồng, tại Biên lai thu số: 0014664 ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã R, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận - Các đương sự; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND cùng cấp; - CCTHADS cùng cấp; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy |