vanban.org

Bản án 03/2023/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 09/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lam S phạm tội: “Giết người” Về dân sự: Đã giải quyết xong, không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "S giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
___________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HSST
Ngày 09-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hiên

Thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Sỹ

Hội thẩm nhân dân:Ông Võ Hoàng

Ông Trần Minh Đức

Ông Nguyễn Đăng Hoà

Thư ký: Bà Lê Thị Nga - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Hùng - Kiểm sát viên

Ngày 09/01/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 136/2022/TLST-HS ngày 8/12/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 336/2022/QĐXXST-HS ngày 21/12/2022 đối với bị cáo sau:

Nguyễn Lam SSinh ngày 11/01/1984 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn 1, xã Thành A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Giới tính: nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: làm nông. Học vấn: 12/12. Cha là Nguyễn Duy T, sinh năm 1963; mẹ là Bùi Thị L sinh năm 1964. Gia đình bị cáo có 3 anh em, bị cáo là con lớn nhất. Có vợ là Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1987. Chưa có con. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú, bị bắt ngày 10/5/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Huỳnh Văn Kiên, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai. Có mặt.

* Bị hại: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn 3, xã Thành An, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1987. Địa chỉ: thôn 1, xã Thành An, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt

* Người làm chứng:

- Chị Trần Thị H, sinh năm 1988. Địa chỉ: thôn 3, xã Thành An, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt

- Anh Nguyễn Văn Thsinh năm 1991. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt

- Anh Lương Ngọc Th, sinh năm 1989. Vắng mặt

- Chị Nguyễn Thị Bích Ph, sinh năm 1993. Vắng mặt

- Chị Hà Thị Th, sinh năm 1990. Vắng mặt

- Ông Lương Văn Ch, sinh năm 1960. Vắng mặt

- Anh Nguyễn Phúc T, sinh năm 1987. Vắng mặt

Cùng địa chỉ: thôn 2, xã Kông Bơ La, huyện K, tỉnh Gia Lai

- Anh Trần Công M, sinh năm 1991. Địa chỉ: tổ 2, thị trấn Đăk P, huyện Đak P, tinh Gia Lai. Vắng mặt

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1996. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt

- Chị Nguyễn Thị Bích H1, sinh năm 1992. Vắng mặt

Cùng địa chỉ: thôn 1, xã Thành An, thị xã A, tỉnh Gia Lai

- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1966. Địa chỉ: tổ 1, xã Thành An, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

a. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Sáng ngày 24 tháng 01 năm2022, vợ chồng anh Nguyễn Thanh H (Sinh năm: 1987) và chị Trần Thị H (Sinh năm: 1988) cùng trú tại: Thôn 3, xã Thành An, thị xã A, tỉnh Gia Lai và anh Trần Công M (Sinh năm: 1991, trú tại: Tổ 2, thị trấn Đak Pơ, huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai - là em ruột chị H) đi giao hàng tạp hóa tại huyện Kbang. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì đến bỏ hàng tại Tiệm tạp hóa Phúc Tín có địa chỉ tại: Thôn 2, xã Kông Bơ La, huyện K, tỉnh Gia Lai. Lúc này chị H, anh H và anh M có đến nhà vợ chồng anh Nguyễn Văn Th (Sinh năm: 1990) và chị Nguyễn Thị Bích Ph (Sinh năm: 1994) cách Tiệm tạp hóa Phúc Tín khoảng 50m để hỏi chị Phương về việc trước đó chị Phương có nói với chị Hà Thị Th (Sinh năm: 1990, trú tại: Thôn 2, xã Kông Bơ La, huyện K - là chủ dịch vụ đám cưới Hà Thu) với nội dung chị H có nói xấu dịch vụ tiệc cưới Hà Thu nấu ăn dở, dẫn đễn việc chị Th không lấy bia của chị H nhưng chị Ph không thừa nhận. Sau đó, hai bên đã xảy ra cãi nhau qua lại thì anh Th có đóng cửa nhà lại và đuổi chị H, anh H và anh M về. Lúc này, chị Ph có gọi điện cho cha đẻ là ông Nguyễn Văn B (Sinh năm: 1966, trú tại: Thôn 1, xã Thành An, thị xã A, tỉnh Gia Lai) nói lại việc anh H, chị H và anh Mùi đến nhà chửi bới, đe dọa chị Phương. Sau đó, ông Bình cùng vợ chồng Nguyễn Lam S (Là anh ể của Ph), Nguyễn Thị Bích H (Sinh năm: 1988 - là chị gái Ph); vợ chồng Lương Ngọc Th (Sinh năm: 1989 - là anh rể Ph), Nguyễn Thị Bích H1 (Sinh năm: 1992 - chị gái Ph) và Nguyễn Văn T (Sinh năm: 1996 - là em trai Ph) cùng trú tại Thôn 1, xã Thành An, thị xã A, tỉnh Gia Lai, đi xe máy từ thị xã A đến nhà chị Ph để xem sự việc như thế nào. Khi đến nhà Phương, Sơn có mời vợ chồng anh H chị H và anh M đang bỏ hàng tạp hóa tại Tiệm tạp hóa Phúc Tín đến nhà chị Ph để nói chuyện xem nội dung cụ thể nguyên nhân sự việc như thế nào. Khi vợ, chồng anh H, chị H và anh M đến nhà chị Ph thì ông B có mời anh H, chị H ngồi tại bàn ghế đá trước cửa nhà chị Ph, anh H ngồi cùng với S quay vào phía trong nhà, chị H ngồi cùng với ông B quay ra phía đường.Lúc này, ông B có gọi điện cho chị Hà Thị Th đến để hỏi rõ ai là người nói xấu dịch vụ đám cưới Hà Thu nấu ăn dở. Quá trình nói chuyện giữa vợ chồng anh H, chị H và gia đình ông B tiếp tục xảy ra cãi nhau qua lại. Lúc này, vì cho rằng anh H nhỏ tuổi nhưng nói chuyện xúc phạm người lớn trong đó có ông B là bố vợ của S nên S đứng dậy chỉ tay vào mặt H nói: “Rút kinh nghiệm lần sau nha em, ra đường ăn nói cho đàng hoàng”, anh H đứng lên gạt tay S và nói: “Nói thì nói không được chỉ tay vào mặt”, ngay sau đó S cầm ấm trà để trên bàn đánh mạnh một cái vào trán H làm anh H ngã xuống đám mía bên hông nhà chị Ph.Ngay lúc này, Anh Th, anh T đã chạy đến đỡ anh H đứng dậy và anh Thđã chở anh H đến Trạm y tế xã Kông Bơ La, huyện K để sơ cứu vết thương, sau đó chuyển đến Bệnh viện Hoàng Anh Gia Lai để điều trị, đến ngày 28 tháng 01 năm 2022 thì xuất viện. Quá trình điều tra, anh Nguyễn Văn Th đã giao nộp hung khí mà S đã sử dụng để gây án là 06 mảnh vỡ của ấm trà màu trắng có họa tiết, hình thù khác nhau. Ngày 24 tháng 01 năm 2022, Trần Thị H là vợ của Nguyễn Thanh H đã làm đơn tố cáo hành vi của Nguyễn Lam S. Đến ngày 04 tháng 5 năm 2022, S bị khởi tố sau đó đến ngày 10 tháng 5 năm 2022, Sơn bị bắt theo Lệnh bắt bị can để tạm giam.

Ngày 11 tháng 3 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Gia Lai đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 19/QĐ, về việc trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai giám định tỉ lệ tổn thương trên cơ thể của anh Nguyễn Thanh H. Qua giám định, tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 64/22/TgT ngày 14 tháng 4 năm 2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Một sẹo vết thương phần mềm nằm ngang giữa trán lệch trái kích thước (2,5x01cm), sẹo liền, một đường thẳng, bờ mép gọn.

- Chấn thương sọ não gây xuất huyết dưới nhện vùng trán trái tại thời điểm giám định không còn hình ảnh tổn thương trên phim CT-Scanner.

- Chấn thương sọ não gây tụ máu dưới màng cứng trán phải tại thời điểm giám định không còn hình ảnh tổn thương trên phim CT-Scanner.

- Chấn thương sọ não gây nứt xương sọ vùng trán trái đến gần ổ mắt trái dài 45mm, điện não bình thường.

- Chấn thương sọ não gây nứt thành trước xoang hàm trái.

- Chấn thương sọ não gây đụng dập xuất huyết nhu mô não trán trái tại thời điểm giám định không còn hình ảnh tổn thương trên phim CT-Scanner.

2. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 37% (Ba bảy phần trăm). Áp dụng theo phương pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT”.

Tại Cáo trạng số 02/CT-VKS-P2 ngày 7/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Lam S về tội: “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

2. Diễn biến tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Ý kiến của Kiểm sát viên: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lam S phạm tội: “Giết người”

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; Điều 15, Điều 57; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Lam Smức án từ 7 năm đến 8 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng của vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật

- Người bào chữa cho bị cáo, luật sư Huỳnh Văn Kiên: Hành vi của bị cáo giết người nhưng không có tính chất côn đồ, nên không đồng ý quan điểm của Viện kiểm sát truy tố bị cáo tội giết người theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; đồng ý với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát

- Bị hại anh Nguyễn Thanh H xác nhận bị cáo đã bồi thường xong thiệt hại, không có yêu cầu gì thêm. Về hình phạt xin giảm nhẹ cho bị cáo

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Bích H, là vợ của bị cáo S, chị và bị cáo S đã tự nguyện bồi thường cho anh Hải, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Xuất phát từ mâu thuẫn giữa vợ chồng anh H, chị H với chị Ph, là em vợ của S, nên S có đến nhà chị Ph để xem sự việc như thế nào. Trong lúc nói chuyện, cho rằng anh H còn nhỏ nhưng có lời nói xúc phạm bố vợ của S là ông B nên Sđã dùng ấm trà đánh mạnh một phát vào vùng trán anh H làm anh H chấn thương sọ não, nứt xương sọ vùng trán trái, tổn hại sức khoẻ 37%.

Hành vi dùng ấm trà đánh vào đầu, là nơi trọng yếu trên cơ thể của bị hại, buộc bị cáo phải ý thức được hậu quả chết người có thể xảy ra, việc bị hại không chết là ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi của bị cáo Nguyễn Lam S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên có căn cứ, đúng tội.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương, gây ảnh hưởng nghiêm trọng sức khoẻ của bị hại, do đó phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài bằng hình phạt tù có thời hạn để giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bồi thường xong thiệt hại cho bị hại; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; sau khi phạm tội ra đầu thú; nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; bị hại có một phần lỗi, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét hậu quả chết người chưa xảy ra, nên thuộc trường hợp hoàn thành về hành vi nhưng chưa đạt về hậu quả. Hội đồng xét xử áp dụng quy định về phạm tội chưa đạt theo Điều 15, khoản 3 Điều 57 khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo

Xét bị cáo phạm tội nhưng có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên HĐXX áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề được áp dụng

[5] Về dân sự: bị cáo và gia đình đã bồi thường cho bị hại anh Hải số tiền 300.000.000 đồng gồm chi phí điều trị, ngày công lao động, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[6] Về vật chứng: Tịch thu tiêu các vật chứng gồm các mãnh vỡ của ấm trà

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lam S phạm tội: “Giết người”

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 15, Điều 57; Điều 54 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Lam S 7 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/5/2022.

2. Về dân sự: Đã giải quyết xong, không xét.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 06 mãnh vở của ấm trà, màu trắng, có hoạ tiết, hình thù khác nhau.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 29/2023 lập ngày 9/12/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai và Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí lệ, phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Lam S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

5.Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ