- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, p…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận rút một phần kháng nghị số 14/QĐ-VKS-P7 ngày 13/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum về hình phạt của bị cáo Đinh Văn Th và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần hình phạt của bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Tuyên bố; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự Tuyên bố
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HSPT Ngày: 06/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Vân.
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Như Mai và ông Vũ Văn Thuấn.
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Quang Vinh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Lam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 03/2023/HSPT ngày 06 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo Đinh Văn Th, do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đối với bản án số: 47/2022/HS-ST ngày 02/12/2022 của Tòa án huyện NgH, tỉnh Kon Tum.
Bị cáo bị kháng nghị: Đinh Văn Th; tên gọi khác: Hun; sinh ngày 15 tháng 4 năm 1997; nơi sinh: tỉnh Kon Tum; nơi cư trú (Chỗ ở hiện nay): Thôn HB, xã ĐăkK, huyện NgH, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn L và bà Đinh Thị H; vợ là Vi Thị H2, bị cáo có 01 con, sinh năm 2019; vợ, con và cha, mẹ của bị cáo hiện nay cư trú tại: Thôn HB, xã ĐăkK, huyện NgH, tỉnh Kon Tum. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 16/8/2018 bị cáo có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, ngày 12/10/2018 đã nộp phạt đủ. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5/2020, Đinh Văn Th điều khiển xe môtô đi chơi tại thôn Tân Bình, xã ĐăkK, huyện NgH, tỉnh Kon Tum thì gặp H3 (không rõ lý lịch, địa chỉ). Hai bên dừng xe nói chuyện một lúc, H3 lấy trong túi áo khoác ra một vật bằng kim loại màu trắng, nâu hình trụ tròn, dài khoảng 19 cm, đường kính khoảng 1,2 cm có lẫy kéo và lò xo, H3 nói là súng và đưa cho Th xem. Th thấy đẹp và xin nên H3 đồng ý cho, Th mang về nhà, dùng một cục Nam châm gắn vào khoang rỗng trong cánh cửa sắt, phía sau phòng chứa đồ của gia đình, dính khẩu súng vào cục Nam châm để cất giấu. Sau này tìm hiểu Th biết đây là khẩu súng tự chế, gọi là Súng bút.
Đến 17 giờ 00 phút ngày 18/6/2022, Công an huyện NgH khám xét nơi ở của Th thu được một khẩu súng nêu trên. Tại kết luận giám định số 840/KL KTHS, ngày 28/6/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Vật thu được gửi giám định là súng tự chế không theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp; có khả năng gây sát thương, gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe con người tương tự như súng ngắn, hiện tại sử dụng bắn được và thuộc vũ khí quân dụng.
Với nội dung trên tại bản án hình sự số: 47/2022/HSST ngày 02/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện NgH, tỉnh Kon áp dụng khoản 1 điều 304, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;
Xử phạt bị cáo Đinh Văn Th 24 (Hai bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn tám) tháng tính từ ngày tuyên án, ngày 02/12/2022.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/12/2022 Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 14/QĐ-VKS-P7 đối với bản án nêu trên và cho rằng:
Tòa án nhân dân huyện NgH áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là hai tình tiết giảm nhẹ là không đúng mà chỉ áp dụng một tình tiết tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Nhận định bị báo không hiểu súng tự chế là vũ khí quân dụng, súng không có đạn, không có động cơ mục đích, phạm tội lần đầu với vai trò là người giúp sức để áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 là tùy tiện không đúng. Do vậy, cấp sơ thẩm cho hưởng án treo là không đúng với quy định. Đề nghị giữ nguyên mức án 24 tháng tù, không cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum rút một phần Quyết định kháng nghị về phần hình phạt giữ nguyên mức án 24 tháng tù và cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum ra Quyết định kháng nghị phúc thẩm theo đúng trình thủ tục tố tụng nên được hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét. Hành vi, trình tự thủ tục tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố và xét xử tại cấp sơ thẩm đều thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo khai nhận vào thời gian khoảng tháng 5/2020, H3 cho bị cáo một cây súng dài khoảng 19 cm, đường kính thân khoảng 1,2 cm, đem về nhà cất giấu súng tại nhà theo kết luận giám định, thuộc vũ khí quân dụng. Vì vậy, Tòa án huyện NgH xét xử bị cáo tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 điều 304 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
[3]. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum
[3.1]. Tại phiên tòa Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị về hình phạt. HĐXX thấy rằng đây là tự nguyện nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần hình phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của bị cáo và Bản án sơ thẩm về phần này có hiệu luật pháp luật theo quy định tại Điều 348 BLHS.
[3.2]. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ thấy rằng: Cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Cấp sơ thẩm nhận định bị báo không hiểu súng tự chế là vũ khí quân dụng, súng không có đạn, không có động cơ mục đích, để áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS là không đúng. Việc không hiểu súng tự chế là vũ khí quân dụng, súng không có đạn, không có động cơ mục đích, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ.
Cấp sơ thẩm nhận định H3 và Th là đồng phạm, cùng phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” và xác định H3 có vai trò là người thực hành, Th có vai trò là người giúp sức là trái với quy định Điều 17 BLHS. Bởi lẽ: Việc H3 cho Th súng là lời khai một chiều của Th, quá trình điều tra không xác minh được đối tượng tên “H3”; không khởi tố, truy tố, xét xử H3 mà nhận định H3 là đồng phạm với vai trò thực hành còn bị cáo Th là người trực tiếp cất giấu súng tại nhà mình thì cấp sơ thẩm nhận định là đồng phạm với vai trò giúp sức, đây là sự nhận thức không đúng quy định của pháp luật.
Việc áp dụng pháp luật về tình tiết giảm nhẹ và đánh giá vai trò phạm tội đối với bị cáo của cấp sơ thẩm không đúng quy định, cần rút kinh nghiệm.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp đơn trình bày hoàn cảnh gia đình và người đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn, sự nhận thức pháp luật còn hạn chế có xác nhận của địa phương. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS áp dụng cho bị cáo được hưởng.
Từ những đánh giá trên HĐXX không chấp nhận kháng nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm số 47/2022/HS-ST ngày 02/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện NgH, tỉnh Kon Tum
[4]. Về các vấn đề khác
Phần Quyết định xử lý vật chứng của bản án thể hiện: “Việc chuyển giao các vật chứng nói trên: Theo Quyết định chuyển vật chứng số 11/QĐ-VKSKT-P1 ngày 05/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum” là không phù hợp. Vì vậy, cần sửa lại theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2022 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Kon Tum với Chi cục thi hành án dân sự huyện NgH, tỉnh Kon Tum.
[5].Về án phí: Bị cáo Đinh Văn Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 348; điểm a, đ khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận rút một phần kháng nghị số 14/QĐ-VKS-P7 ngày 13/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum về hình phạt của bị cáo Đinh Văn Th và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần hình phạt của bị cáo.
Không chấp nhận kháng nghị số 14/QĐ-VKS-P7 ngày 13/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum về phần áp dụng pháp luật.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 47/2022/HSST ngày 02/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện NgH, tỉnh Kon Tum.
1. Áp dụng khoản 1 điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”
Xử phạt bị cáo Đinh Văn Th 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 02/12/2022).
Giao bị cáo Đinh Văn Th cho Ủy ban nhân dân xã ĐăkK, huyện NgH, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự: Nếu trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại các Điều 68, 92 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự: Tịch thu vật chứng của vụ án;
- Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Kon Tum một khẩu súng tự chế bằng kim loại màu trắng, nâu hình trụ tròn, dài khoảng 19 cm, đường kính thân khoảng 1,2 cm trong thân có lẫy kéo và lò xo, được xác định là súng quân dụng để quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật;
- Giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện NgH tỉnh Kon Tum tiêu hủy 01 cục Nam Châm hình trụ tròn đường kính 1,2 cm; chiều cao 0,25 cm;
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2022 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Kon Tum với Chi cục thi hành án dân sự huyện NgH, tỉnh Kon Tum).
3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đinh Văn Th không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Kon Tum; - Bị cáo; - TAND huyện NgH, tỉnh Kon Tum. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Vân |