- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn C cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm a Khoản 3Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HS-ST Ngày 10-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Sự
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai
Bà Hà Thị Nga
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường- Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Kim Thị Ngọc Bích- Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Toà án nhân dân quận Lê Chân và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng, đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 131/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 363/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Bùi Văn C, sinh năm 199x tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn R, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C và bà Trần Thị T; chưa có vợ con; Tiền sự: không; Tiền ánTại bản án số 164/2011/HSST ngày 16/11/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản (chưa xóa án); Tại bản án số 04/2014/HSST ngày 20/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng xử phạt 48 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (chưa xóa án); Tại bản án số 124/2017/HSST ngày 06/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng xử phạt 06 năm tù về tội Cướp giật tài sản (chưa xóa án); Tạm giữ ngày 07/9/2022, tạm giam ngày 16/9/2022; có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Đỗ Mỹ A, sinh ngày 1x/x/200x, nơi cư trú: Số 19/x T, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thị Vân A (là mẹ đẻ của chị Nguyễn Đỗ Minh A), sinh năm 197x, nơi cư trú: Số 19/x T, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 07/9/2022 Bùi Văn C điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Sỉrius màu đỏ đen, Biển kiểm soát 16N1 – 87xx đi từ nhà sang khu vực nội thành Hải Phòng theo hướng từ ngã tư T đến ngã tư M. Khi đi đến đoạn trước cửa nhà số 114 Nguyễn Đức C, phường C, quận L, Hải Phòng, C quan sát thấy cháu Nguyễn Đỗ Minh A, sinh ngày 1x/x/200x, nơi cư trú: số 19/x T, phường C, quận L, Hải Phòng đang cầm điện thoại di động Iphone XS Max ngồi sau xe máy điện do cháu Nguyễn Thu T, sinh ngày 0x/1x/200x, nơi cư trú: số 110/x H, phường S, quận H, Hải Phòng điều khiển đi ngược chiều. Chung nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của cháu Minh A nên đã điều khiển xe máy từ phía sau vượt lên áp sát vào bên trái, dùng tay trái giật chiếc điện thoại cháu Minh A đang cầm ở trên tay trái rồi quay đầu xe bỏ chạy thì xe của C va chạm với xe của người đi đường bị ngã, chiếc điện thoại rơi xuống đất cách C khoảng 01m. C nghe thấy Minh A hô “Cướp, cướp” nên đã dựng xe lên để tẩu thoát nhưng bị người dân xung quanh kết hợp với lực lượng Công an bắt quả tang. Thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu vàng; 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 16N1 - 8776, thu tại túi quần phía sau bên phải của C số tiền 100.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 70 ngày 13/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Lê Chân kết luận:Giá trị của một chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max màu vàng đã qua sử dụng cần định giá trên là 8.000.000 đồng.
Quá trình điều tra Bùi Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra Bùi Văn C cò khai nhận vào ngày 0x/x/202x C điều khiển xe máy trên đi cướp giật điện thoại của 02 nữ giới đi xe máy điện tại thị trấn N, huyện T.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân cháu Nguyễn Đỗ Minh A khai; Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 07/9/2022 cháu đang ngồi sau xe máy điện do bạn là Nguyễn Thu T điều khiển đi trên đường Nguyễn Đức C, tay trái cầm điện thoại Iphone Xs Max màu vàng bất ngờ bị một nam giới điều khiển xe máy dùng tay trái cướp giật điện thoại rồi quay đầu xe bỏ chạy thì va chạm với xe của người đi đường ngã, chiếc điện thoại rơi xuống đường. Người nam giới bị nhân dân và lực lượng Công an bắt giữ.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại; Lời khai người chứng kiến; Vật chứng thu giữ; Kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xe môtô nhãn hiệu Sirius, Biển kiểm soát 16N1 – 87xx. Tài liệu điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Bùi Văn C, sinh năm 196x, trú tại xã T, huyện T, Hải Phòng cho C mượn, anh C không biết C sử dụng xe để đi cướp giật tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã trả lại cho anh C.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, ăn năn hối cải và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố trước tòa và đề nghị HĐXX: Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Văn C với mức án 05 - 06 năm tù về tội “ Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 9 năm 2022;
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tạm giữ số tiền 100.000 đồng thu giữ của Bùi Văn C để đảm bảo thi hành án;
Về án phí: Bị cáo Bùi Văn C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi cướp giật tài sản: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản kết luận định giá tài sản số 70 ngày 13/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Lê Chân kết luận “ Giá trị của một chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max màu vàng đã qua sử dụng cần định giá trên là 8.000.000 đồng”; vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, thể hiện: Bị cáo Bùi Văn C dùng xe máy BKS: 16N1-87xx từ phía sau vượt lên dùng tay giật, lấy được chiếc điện thoại của chị Nguyễn Đỗ Minh A rồi bỏ chạy là phạm tội cướp giật tài sản theo Điều 171 Bộ luật hình sự: Hành vi dùng xe máy để giật chiếc điện thoại được xác định là dùng thủ đoạn nguy hiểm và năm 2017 bị cáo bị kết án đã chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm nguy hiểm đến nay chưa được xóa án tích và lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên bị cáo đã vi phạm điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 05 ngày 14/12/2022 của VKSND quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Bùi Văn C là đúng pháp luật.
Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm hại đến tài sản thuộc sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng nhân thân bị cáo có 3 tiền án chưa được xóa nay tiếp tục phạm tội do cố ý. Mặc dù đây được tính là tình tiết định khung hình phạt nên không được tính vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm, song thể hiện bị cáo có nhân thân xấu cần có hình phạt nghiêm khắc xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max đã qua sử dụng đã thu hồi trả lại cho bị hại và không có yêu cầu đề nghị gì khác nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân đang quản lý 100.000 đồng. Xét thấy đây là tiền thuộc sở hữu của bị cáo. Do đó căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Bùi Văn C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Văn C, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Văn C 06 ( Sáu) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 9 năm 2022.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm a Khoản 3Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
-Trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng thu giữ của Bùi Văn C nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Bùi Văn C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Bùi Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; UBND nơi bị cáo cư trú; - VKSND thành phố; - Bị hại; - VKSND quận Lê Chân; - Công an quận Lê Chân; - Phòng PV06; PC10; - THA hình sự; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - Sở tư pháp; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sự |