vanban.org

Bản án 03/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Tuyên án 13/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Phương T - Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH LIÊM
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HS-ST
Ngày: 13 - 01 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Quang Ái.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Hà và bà Nguyễn Thị Mai.

- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Thế Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: ông Vũ Đình Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2023/HSST ngày 03 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2023, đối với bị cáo:

+ Lê Thị Phương T - sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT: số nhà 37B đường CCL, phố TQ, phường TT, thành phố NB, tỉnh NB; nơi ở: số nhà 19, đường Tô Vĩnh Diện, phố Tân Văn, phường TT, thành phố NB, tỉnh NB; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tiến H (đã chết) và bà Đỗ Thị P (đã chết); chồng Đàm Văn T (đã ly hôn) và có 03 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/11/2022 đến ngày 07/12/2022 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Lã Văn L - sinh năm 1965; nơi cư trú: phố 14, phường VG, thành phố NB, tỉnh NB, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người chứng kiến: ông Phạm Văn P - sinh năm 1971; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 11/2022, Lê Thị Phương T đăng 01 bài viết trên mạng xã hội Facebook với nội dung: “Cần mua pháo hoa Bộ Quốc phòng, ai có giá tốt thì liên hệ số điện thoại 0979022333”. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/11/2022 có một nam thanh niên sử dụng số điện thoại 0815642890 gọi đến số điện thoại 0979022333 của T, T nghe máy thì có 01 nam thanh niên nói và hỏi: “Tôi có khách mua pháo ở NB, bạn có vận chuyển hộ tôi từ Hà Nam về thành phố NB được không, tôi trả công một triệu đồng”. T hiểu ý người này muốn thuê T vận chuyển pháo nổ từ Hà Nam về thành phố NB với tiền công vận chuyển là một triệu đồng thì T đồng ý và hỏi: “địa chỉ nhận hàng ở đâu?”, nam thanh niên này trả lời: “Cứ đến khu vực cây xăng Đức An, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam thì gọi lại”. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T gọi điện hỏi ông Lã Văn L: “anh có rảnh không chở em lên Hà Nam một tý” thì ông L đồng ý và nói “Chờ anh ăn cơm xong anh lên anh đón”. Sau đó, ông L điều khiển xe mô tô BKS: 55P1 - 1042 chở T đi từ thành phố NB đến khu vực cây xăng Đức An thuộc địa phận huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam thì T liên lạc với nam thanh niên thuê vận chuyển pháo và hỏi địa điểm lấy pháo thì người này bảo đến nhà nghỉ Trúc Xinh gần đó thuộc thôn Phúc Nhị, xã Thanh Phong, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam để lấy pháo.

Đến nơi, T tiếp tục liên lạc với người thanh niên này thì thấy có 01 nam thanh niên (T không biết tên, tuổi, địa chỉ, khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1m65, da ngăm đen, dáng người nhỏ, đầu đội mũ lưỡi trai) đang đứng ở sảnh nhà nghỉ Trúc Xinh nghe điện thoại. T biết đây là người đã thuê vận chuyển pháo nên bảo ông L ở ngoài sân đợi, còn T đi đến gặp người thanh niên này thì được người này dẫn vào phòng 18 tại tầng 1 nhà nghỉ Trúc Xinh. Khi vào trong phòng nam thanh niên nói với T: “mang số pháo này đi thì phải đặt cọc 4.000.000 đồng khi chuyển về NB người nhận sẽ trả 5.000.000 đồng gồm tiền công và tiền cọc”, T đồng ý. Tuy nhiên do không biết phải cọc tiền và không mang theo tiền nên T bảo người thanh niên đợi, T ra gặp ông L nhờ chở đi rút tiền nhưng qua nói chuyện với ông L thì ông L hỏi T “cần bao nhiêu tiền” T trả lời “cần bốn triệu”, ông L nói “bốn triệu thì anh có”. Sau đó ông L lấy 4.000.000 đồng từ trong người ra đưa cho T. T cầm tiền đi vào phòng 18 đưa cho người thanh niên, người này nhận tiền và chỉ T sang phòng 20 tại tầng 1 nhà nghỉ Trúc Xinh lấy pháo và dặn T “khi nào bạn về đến thành phố NB thì điện lại cho mình để mình bảo người đến lấy hàng”, sau đó T đi sang phòng 20 thì thấy có một bao tải màu đỏ để ở giữa phòng nên mở ra kiểm tra. Sau khi mở bao tải ra kiểm tra thấy bên trong có 05 (năm) bệ pháo nổ do nước ngoài sản xuất, biết đây là số phảo nổ được thuê vận chuyển nên T bê bao tải chứa pháo nổ ra vị trí ông L và xe mô tô BKS 55P1-1042 để đi về, còn người thanh niên đi đâu T không biết. Khi T đang bê bao tải chứa pháo đặt lên yên mô tô BKS 55P1-1042 thì bị Lực lượng Công an xã Thanh Phong, huyện Thanh Liêm bắt quả tang hồi 20 giờ 10 phút cùng ngày.

* Vật chứng và tài sản thu giữ: thu giữ trên yên xe mô tô BKS: 55P1 - 1042, 02 hộp đều có kích thước (17 x 16,5 x 10) cm và 03 hộp đều có kích thước (14,5 x 14,5 x 10) cm bên ngoài cả 05 hộp đều được dán giấy màu xanh có các dòng chữ nước ngoài (nghi là pháo nổ) được đựng trong 01 bao tải xác rắn màu đỏ kích thước (95x58) cm, 05 hộp này được niêm phong trong thùng catton có kích thước (42x33x20) cm ký hiệu QT01. Thu tại tay trái của Lê Thị Phương T đang cầm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh tím được niêm phong ký QT02; 01 (một) xe mô tô BKS: 55P1-1042; 01 (một) bao tải xác rắn màu đỏ kích thước (95x58) cm.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Thị Phương T tại số nhà 19 , đường Tô Vĩnh Diện, phố Tân Văn, phường TT, thành phố NB, tỉnh NB, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.

Tại bản Kết luận giám định số 849/KLGĐ - PC09 - ChN ngày 02/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh NB kết luận:

“- 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật bọc giấy gửi giám định đều là pháo, loại pháo nổ (còn được gọi là pháo hoa nổ).

- Tổng khối lượng của 05 hộp pháo nổ gửi giám định là 6,128 kg (sáu phẩy một trăm hai mươi tám ki lô gam)”.

Bản cáo trạng số 06/CT-VKSTL ngày 03/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã truy tố Lê Thị Phương T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Phương T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xử phạt Lê Thị Phương T từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 01 thùng catton kích thước (42x33x20) cm bên trong chứa toàn bộ số pháo nổ hoàn lại sau giám định, 01 bao tải xác rắn màu đỏ; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động OPPO F9. Về trách nhiệm dân sự: số tiền 4.000.000đ ông L và bị cáo thỏa thuận T có trách nhiệm trả lại cho ông L sau nên ông L không đề nghị giải quyết trong vụ án này, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Bị cáo Lê Thị Phương T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên toà, Lê Thị Phương T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 20 giờ 10 phút ngày 27/11/2022, tại khu vực nhà nghỉ Trúc Xinh có địa chỉ tại thôn Phúc Nhị, xã Thanh Phong, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, Lê Thị Phương T có hành vi vận chuyển thuê 05 hộp pháo nổ có tổng khối lượng 6,128 kg (sáu phẩy một trăm hai mươi tám ki lô gam) từ tỉnh Hà Nam về thành phố NB với số tiền công là 1.000.000 đồng cho một người nam thanh niên không quen biết thì bị lực lượng Công an xã Thanh Phong, huyện Thanh Liêm bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, chế độ quản lý đối với các loại hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh, lưu hành và sử dụng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương trong dịp lễ Tết cổ truyền. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lượng pháo nổ mà bị cáo vận chuyển là từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, bản thân đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: bị cáo có nhân thân tốt và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Việc cho hưởng án treo đối với bị cáo phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Hình phạt bổ sung: bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô BKS: 55P1 – 1042, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Lã Văn L, ông L không bàn bạc, thống nhất với T vận chuyển pháo và không biết việc T nhờ chở đi để đi lấy pháo nổ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Liêm không có căn cứ xử lý đối với ông L và ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông L xe mô tô BKS 55P1-1042 là đúng pháp luật.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của T, T sử dụng để liên lạc, giao dịch với đối tượng thuê vận chuyển pháo nổ nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với số pháo nổ hoàn trả sau giám định là hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng, 01 bao tải xác rắn, 01 thùng catton không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc số pháo nổ và các vấn đề khác:

- Đối với anh Nguyễn Văn P là quản lý nhà nghỉ Trúc Xinh, quá trình điều tra xác định khi có một người thanh niên hỏi thuê phòng, anh P có hỏi thông tin của người này để làm thủ tục thuê phòng song người này bảo đợi bạn đến sẽ cung cấp sau nên anh P bảo người này đi ra ngoài khi nào bạn đến thì quay lại sau, sau đó anh P đi làm việc, không biết sự việc xảy ra giữa T và người nam thanh niên giao dịch thuê vận chuyển pháo tại khu vực nhà nghỉ thì bị lực lượng Công an bắt giữ. Bản thân T cũng không biết họ tên tuổi, địa chỉ của nam thanh niên thuê vận chuyển pháo. Tra cứu thông tin chủ số thuê bao 0815642890 đứng tên đăng ký là Khuất Thị Hằng tại phường Quang Trung, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang, tuy nhiên kết quả điều tra xác định không có công dân nào tên Khuất Thị Hằng có địa chỉ như thông tin đã đăng ký. Ngoài lời khai của T, cơ quan điều tra không thu thập được tài liệu chứng cứ nào khác vì vậy cơ quan điều tra không có căn cứ xác định nguồn gốc số pháo nổ, xử lý đối với người đã thuê T vận chuyển pháo nổ cũng như không có căn cứ xử lý đối với anh P là đúng pháp luật.

- Đối với số tiền 4.000.000 đồng ông Lã Văn L cho Lê Thị Phương T vay, tuy nhiên ông L không biết mục đích T vay để dùng số tiền đó đặt cọc pháo nổ. Ông L và T có thỏa thuận T trả sau, không đề nghị giải quyết trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; các điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên bố: bị cáo Lê Thị Phương T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

- Xử phạt: Lê Thị Phương T 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/01/2023).

Giao bị cáo Lê Thị Phương T cho Ủy ban nhân dân phường TT, thành phố NB, tỉnh NB giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 thùng catton kích thước (42x33x20) cm, 01 bao tải xác rắn màu đỏ và toàn bộ số pháo hoa nổ hoàn lại sau giám định;

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động OPPO F9.

(Chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/01/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Thanh Liêm với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm)

3. Án phí: bị cáo Lê Thị Phương T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ