- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Hoàng Văn L1 phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HS-ST Ngày 14/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Sín;
Ông Nông Văn Hoạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà La Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hải Trinh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 02 năm 2023, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2023/TLST-HS, ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Hoàng Văn L1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 18 tháng 8 năm 2002 tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn S, sinh năm 1979 và bà Trương Thị D, sinh năm 1978; Bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án: 01 tiền án, theo bản án số 06/2022/HS-ST, ngày 01/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt bị cáo 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội trộm cắp tài sản (xảy ra ngày 25/5/2021), theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đang chấp hành thời gian thử thách.
Tiền sự: 01 tiền sự, theo Quyết định số 04/QĐ-XPHC, ngày 29/5/2021 của Công an xã B, huyện Ngân Sơn xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (xảy ra ngày 10/5/2021) chấp hành xong ngày 10/12/2021.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 10/11/2022 (có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa: Ông Sầm Đức Tùng – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn (có mặt).
- Bị hại:
+ Ông Hoàng Phạm T, sinh năm 1981; Nghề nghiệp: Công nhân; Tạm trú: Thôn A, xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Ông Đinh Văn P, sinh năm 1974; Nghề nghiệp: Công nhân; Tạm trú: Thôn A, xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn (vắng mặt không có lý do).
- Người làm chứng:
+ Ông Nông Văn B, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn N, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do từng có thời gian làm thuê tại Công ty trách nhiệm hữu hạn H (sau đây gọi là công ty) tại thôn B, xã C, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn nên ngày 24/10/2022, bị cáo Hoàng Văn L1, sinh năm 2002, trú tại thôn A, xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn nảy sinh ý định vào Công ty H để trộm cắp tài sản. Chiều tối cùng ngày 24/10/2022 L1 đến khu đồi ngay gần công ty H ngủ, đợi đến khoảng gần 01 giờ sáng ngày 25/10/2022 L1 một mình đi bộ vào khu nhà văn phòng rồi đi đến cửa đến phòng ngủ của công ty, cửa phòng mở từ trước, trong phòng ngủ lúc này có ông Đinh Văn P, sinh năm 1974 và ông Hoàng Phạm T, sinh năm 1981 là công nhân công ty H, tạm trú tại thôn A, xã B mỗi người đang ngủ trên một chiếc trên giường. L1 đến cửa chính phòng ngủ thì nhìn thấy màn hình tivi ở trong phòng đang hiển thị hình ảnh hệ thống camera giám sát của công ty, L1 đứng ở cửa phòng giơ tay ra ngoài vẫy tay trước camera gắn ở mái hiên bên ngoài phòng, không thấy hình ảnh của bản thân mình trên màn hình thì tiếp tục đi vào trong, L1 đi đến giường ông T đang ngủ thấy có 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7, đang cắm dây sạc pin ở đầu giường, L1 rút dây sạc khỏi điện thoại và cầm chiếc điện thoại này cho vào túi áo L1 đang mặc trên người. Sau đó, L1 đi sang giường ông P đang ngủ (cách giường ông T 2,45 mét) thấy có 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J4 đang cắm dây tai nghe vào tai của ông P để ở đầu giường, L1 rút dây tai nghe khỏi điện thoại rồi cầm lấy chiếc điện thoại này trên tay và đi ra khỏi phòng bằng lối đã vào. Sau khi lấy trộm được hai chiếc điện thoại, L1 đi bộ ra đường Quốc lộ 3 thuộc thôn Đ, xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn và ngủ ở ven đường. Đến khoảng 05 giờ sáng ngày 25/10/2022, L1 đi bộ theo đường Quốc lộ 3 xuống thị trấn N, huyện Ngân Sơn tìm chỗ bán điện thoại vừa lấy trộm được. Trên đường đi, L1 tháo ốp lưng và sim điện thoại gắn trong hai chiếc điện thoại trộm cắp được và vứt đi, đến Tiểu khu A, thị trấn N, huyện Ngân Sơn một mình vào cửa hàng điện thoại của ông Nông Văn B, sinh năm 1983 lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7 lấy được của ông T ra cho ông B xem, hỏi ông B có mua không, lúc này ông T cũng đang ở cửa hàng ông B, nhìn thấy chiếc điện thoại L1 mang ra giống chiếc điện thoại của mình đã bị mất trộm nên T hỏi L1 có phải L1 lấy trộm điện thoại của mình không và cầm chiếc điện thoại này lên xem, thấy bị phát hiện L1 để lại điện thoại và bỏ chạy khỏi cửa hàng đi lên đình chợ N trốn, không thấy ai đuổi theo nên L1 tiếp tục đi bộ theo đường Quốc lộ 3 hướng về đến thôn Đ thì bị lực lượng Công an xã T đưa về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, Lự đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J4 lấy trộm của ông P.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 58 ngày 27/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Ngân Sơn kết luận giá trị tài sản thời điểm xảy ra vụ việc: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7 có giá trị là 1.500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J4 có giá trị là 880.000 đồng.
Tổng giá trị các tài sản Hoàng Văn L1 trộm cắp được vào ngày 25/10/2022 là 2.380.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Hoàng Văn L1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng, kết quả trích xuất camera, kết quả khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 03/CT-VKSNS, ngày 04/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Lự về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Quyết định hình phạt và xử lý các vấn đề liên quan theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát đề nghị tại phần luận tội như sau:
Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù (thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 10/11/2022). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án số 06/2022/HS-ST và tổng hợp hình phạt với hình phạt của bản án mới, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả hai bản án.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2106/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo có bản bào chữa nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội để áp dụng hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, bản bào chữa của người bào chữa; Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì. Lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 25/10/2022 tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn H thuộc thôn B, xã C, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, Hoàng Văn L1, sinh năm 2002, trú tại thôn A, xã B, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn đã có hành vi một mình lén lút vào phòng ngủ của công ty chiếm đoạt 02 chiếc điện thoại di động có tổng trị giá 2.380.000 đồng, gồm: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A7 của ông Hoàng Phạm T và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J4 của ông Đinh Văn P là công nhân công ty, mục đích đem bán lấy tiền sử dụng cá nhân.
Xét hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ngân sơn ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn quyết định truy tố bị cáo Hoàng Văn L1 trước Tòa án để xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định của pháp luật, đúng với diễn biến khách quan của vụ án, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…;
…;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ, các vấn đề khác và Điều luật mà kiểm sát viên và người bào chữa đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nhân thân bị cáo và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng có 01 tiền án và 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản.
3.1. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm.
3.2. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt:
4.1. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ, tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù tại trại giam một thời gian nhất định, qua đó mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo và cũng để răn đe, phòng ngừa chung.
Ngoài ra, theo bản án số 06/2022/HS-ST, ngày 01/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt bị cáo 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội trộm cắp tài sản (xảy ra ngày 25/5/2021), theo khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, khi đang chấp hành thời gian thử thách thì bị cáo lại phạm tội mới, vì vậy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 18 tháng tù của bản án trước, đồng thời tổng hợp chung hình phạt của cả hai bản án theo quy định của pháp luật.
4.2. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, qua xem xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, thu nhập không ổn định nên không xem xét áp dụng đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Bị hại trong vụ án không yêu cầu bị cáo phải bồi thường do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng trong vụ án:
Đối với 02 chiếc điện thoại di động mà bị cáo trộm cắp đã thu hồi lại và trả lại cho chủ sở hưu hợp pháp, việc xử lý như vậy là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí
Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí do vậy cần miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt
2.1. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của cả bản án số: 06/2022/HS-ST, ngày 01/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn (bản án này đã xử phạt bị cáo 18 (mười tám) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”), buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của cả hai bản án là 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 10/11/2022.
2.2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện Ngân Sơn; - VKSND tỉnh, Trại tạm giam CA tỉnh BK; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện (khi án có hiệu lực); - Sở Tư pháp; - Bị cáo, người bào chữa, bị hại; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Công |