- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội chế tao, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng,…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH V | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ––––––––––––––– Bản án số: 03/2023/HS-ST Ngày 17/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L - TỈNH V
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Trí Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Thanh Hiếu
2/ Ông Trần Thanh Khen
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện L - tỉnh V.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diễm Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện L xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2022 đối với:
Bị cáo Nguyễn Thanh T, sinh ngày 02/11/1997. Tại tỉnh V
Nơi cư trú: khóm 1, phường 3, thành phố V, tỉnh V.
Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Nguyễn Văn C, sinh năm 1964; Mẹ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1965; Anh, chị, em ruột: có 02 người (Lớn nhất bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2001); Vợ: Không; Con: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: Không
Nhân thân: Chưa có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2022 đến nay có mặt tại toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964. Địa chỉ: khóm 1, phường 3, thành phố V, tỉnh V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh T là đối tượng sử dụng ma tuý nên vào khoảng 14 giờ ngày 07/9/2022, do cần ma túy sử dụng. T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 64B1-69165 đi từ nhà ở khóm 1, phường 3, thành phố Vĩnh L, tỉnh Vĩnh L đến khu vực cầu Kinh C thuộc phường 1, thành phố Vĩnh L mua 01 bịch ma túy đá của người nam thanh niên (không rõ nhân thân) với số tiền 100.000đ.
Sau khi nhận được ma túy, T cất ma túy vào ví da màu nâu và giấu vào balo màu xanh đen của T, sau đó T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 64B1-69165 đến xã Tân Hạnh để tìm nơi sử dụng. Lúc này khoảng 15 giờ cùng ngày khi đang đi đến ấp T, xã Tân Hạnh, huyện L Hồ chưa kịp sử dụng ma túy thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L phối hợp với Công an xã Tân H yêu cầu dừng xe kiểm tra, qua kiểm tra T đã giao nộp 01 bịch nyon bên trong chứa tinh thể màu trắng. Công an tiến hành lập biên bản thu giữ 01 bịch nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 ví da màu nâu, 01 ba lo màu xanh đen và 01 xe mô tô biển kiểm soát 64B1- 69165.
Căn cứ vào kết luận giám định số: 635/KL-KTHS ngày 09/9/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh L kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5834 gam (không phẩy năm tám ba bốn) gam loại Methamphetamine.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L Hồ đã trả xe mô tô biển kiểm soát 64B1- 69165 cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn C.
Riêng đối với hành vi của người nam thanh niên bán ma túy cho Nguyễn Thanh T. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L Hồ phối hợp Công an thành phố Vĩnh L xác minh làm rõ. Khi nào xác định được đối tượng xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số: 91/CT-VKS, ngày 28 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L Hồ truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ý kiến kiểm sát viên tại tòa: Bảo lưu quan điểm bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện L Hồ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Đề nghị: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu huỷ bỏ một phong bì niêm phong số 635/KLGĐ-PC09 ngày 09/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự công an Vĩnh L, 01 cái ví da màu nâu, 01 cái balo màu xanh đen.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Ý kiến bị cáo tại tòa: Do nghiện ma tuý nên ngày 07/9/2022 bị cáo đi mua ma tuý của một người ở Cầu Kinh C, bị cáo không biết lai lịch người này. Sau khi mua ma tuý bị cáo bỏ vào cái bóp và cất vào balo. Bị cáo chạy xe 64B1 -69165 về đến xã Tân Hạnh thì bị bắt. Xe là của cha bị cáo, các tài sản còn lại là của bị cáo giá trị không đáng kể.
Lời trình bày sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ để sớm về làm con người mới. Cha, mẹ và Em bị cáo đều có bệnh không khả năng lao động.
Ý kiến ông C: Chiếc xe 64B1 -69165 là của tôi, T con tôi lấy đi, tôi cũng không biết việc T mua ma tuý. Tôi đã nhận lại xe và không có khiếu nại về sau. Tôi cũng không có yêu cầu khác trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Tất cả các quyết định, hành vi tố tụng, thủ tục từ giai đoạn phát hiện tội phạm đến truy tố bị cáo. Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự. Không có khiếu nại từ người tham gia tố tụng.
Về nội dung:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận, chất ma tuý bị thu giữ trên người bị cáo là của bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo đã phù hợp với vật chứng của vụ án, phù hợp với kết luận giám định chất ma tuý của cơ quan có thẩm quyền, là trường hợp phạm tội quả tang. Cáo trạng số 91/CT-VKS, ngày 28 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L Hồ truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Ma túy là loại chất do nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép đều vi phạm pháp luật; Là loại chất độc ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm. Bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Cho thấy, bị cáo có thái độ xem thường pháp luật. Với tình hình tội phạm về chất ma tuý ngày càng gia tăng, phức tạp ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của mọi người gây mất trật tự xã hội. Việc xử lý nghiêm minh đối với bị cáo là cần thiết để lập lại trật tự chung.
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo có thật thà khai nhận, thể hiện sự ăn năn, bị cáo có cha là người có công với nước được tặng Huân C chiến công hạng ba. Đây là những tình tiết giảm nhẹ Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Một phong bì niêm phong số 635/KL-KTHS ngày 09/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự công an Vĩnh L là chất ma tuý còn lại sau giám định phải tịch thu huỷ bỏ.
Chiếc xe môtô 64B2-69165 của ông Nguyễn Văn C, ông C không có lỗi, cơ quan điều tra đã giao trả xe cho ông C là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.5] Hình phạt bổ sung: Bị cáo có thu nhập không ổn định, không có động cơ lợi nhuận khi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu huỷ bỏ một phong bì niêm phong số 635/KLGĐ-PC09 ngày 09/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự công an Vĩnh L, 01 cái ví da màu nâu, 01 cái balo màu xanh đen. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra và chi cục thi hành án dân sự huyện L.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thanh T nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAT; - VKS. H,T ; - CC. THA H; -Sở Tư pháp; -CQCSĐT L Hồ; -Phòng hồ sơ CAVL; - Bị cáo; NLQ; -UBND P3, TpVL, VL; -Nhà tạm giữ L; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Thanh Hiếu – Trần Thanh Khen | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trí Trường THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Trí Trường |