- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Đồng - Trộm cắp tài sản theo K1 Đ 173 BLHS. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Dương Văn Đ 09 (Chín) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 11/10/2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG BẢN ÁN SỐ: 03 /2023/HS-ST NGÀY: 13/01/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán sơ cấp - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hằng
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Nguyễn Quang Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên Tòa: Ông Trần Mạnh Sỹ - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại điểm cầu xét xử trực tuyến Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Văn Đ, sinh năm 1984; Tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Ngoài, xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề ngH: Làm ruộng; Bố đẻ: Dương Văn Cẩn, sinh năm 1937; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Ngọ (đã chết); Gia đình có 08 anh em, bản thân là con thứ tám; Vợ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1984; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 26/9/2022, Đ bị Chủ tịch UBND xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời gian 03 tháng, kể từ ngày 26/9/2022.
- Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2022 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang - (Có mặt tại phiên tòa).
+ Người bị hại: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1964 – (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn Bến Cát, xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1960 – (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn Bến Cát, xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
2. Anh Trần Minh H, sinh năm 1976 – (Vắng mặt).
Địa chỉ: TDP số 1, thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
+ Người làm chứng: Ông Lưu Ngọc S, sinh năm 1955 – (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn Tân Trung, xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi sáng ngày 09/10/2022, Dương Văn Đ, sinh năm 1984, trú tại: thôn Ngoài, xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 98N5-6483 chở vợ là chị Nguyễn Thị M đến nhà ông Lưu Ngọc S, sinh năm 1955 (là cậu họ của Đ) ở thôn Tân Trung, xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang ăn cỗ cưới. Sau khi ăn cỗ xong, Đ ở lại giúp gia đình ông S dọn dẹp, còn chị M đi nhờ xe về trước. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Đ thấy mọi người tập trung ở trong nhà để làm lễ đón dâu, nên nảy sinh ý định trộm cắp xe máy của khách đến dự đám cưới. Để thực hiện ý định, Đ đi ra ngoài cổng thì phát hiện ở bên phải đường liên thôn, cách cổng nhà ông S khoảng 30m có nhiều xe mô tô dựng ở ven đường. Quan sát thấy không có người trông coi, Đ đi đến vị trí dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Furuture X màu đỏ - đen - xám, biển kiểm soát 98B1-259.15 (xe của bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1964, trú tại thôn Bến Cát, xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang là khách đến ăn cưới nhà ông S), dùng chìa khóa xe mô tô của mình tra vào ổ khóa điện vặn theo chiều kim Đ hồ thì mở được khóa của chiếc xe này. Sau đó, Đ đề nổ máy rồi điều khiển xe trộm cắp được đến cửa hàng sửa chữa xe máy của anh Trần Minh H, sinh năm 1976 ở tổ dân phố số 1, thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, Đ khai có nói với H biết là xe “nhảy” được tại đám cưới và bán cho anh H được số tiền 2.000.000 Đ. Sau khi bán được xe, Đ đi bộ đến khu vực ngã tư thị trấn Kép mua 200.000 Đ ma túy của một người đàn ông không quen biết và sử dụng rồi thuê xe ôm của một người không rõ lai lịch chở về nhà ông S. Tại đây, Đ gọi điện cho vợ đem chìa khoá dự phòng đến để Đ điều khiển chiếc xe mô tô của mình về nhà.
Đến khoảng 12 giờ 40 cùng ngày, bà M phát hiện bị mất xe mô tô nên đến Công an xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang trình báo. Công an xã Đào Mỹ đã tiến hành xác minh ban đầu và chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang để điều tra theo thẩm quyền. Ngày 11/10/2022, Đ đến đầu thú tại Công an huyện Lạng Giang về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Tại kết luận định giá tài sản số 92 ngày 11/10/2022 của Hội Đ định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lạng Giang, kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Future X màu đỏ - đen - xám, biển kiểm soát 98B1-259.15 trị giá 7.000.000 Đ.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 14/12/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố Dương Văn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần tranh luận, sau khi đánh giá tính chất vụ án, nhân thân cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện VKSND Huyện Lạng Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Dương Văn Đ từ 09 - 12 tháng tù. Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị HĐXX xử lý về án phí của vụ án.
- Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và có ý kiến đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, ý kiến của bị cáo, người bị hại trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội Đ xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Việc đánh giá chứng cứ: Tại phiên tòa, qua xét hỏi bị cáo Dương Văn Đ khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/10/2022, tại đường liên thôn, đoạn trước cửa nhà ông Lưu Ngọc S ở thôn Tân Trung, xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, Dương Văn Đ có hành vi trộm cắp của bà Nguyễn Thị M 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda - Future X, màu đỏ - đen - xám, biển kiểm soát 98B1-259.15 trị giá 7.000.000 Đ.
Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bằng đơn trình báo, lời khai của người bị hại và phù hợp với thời gian địa điểm xảy ra tội phạm. Như vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị cáo Dương Văn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 14/12/2022 của VKSND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố đối với Dương Văn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, hành vi đó không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây bức xúc phẫn nộ và làm hoang mang tinh thần trong quần chúng nhân dân. Do đó phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo để giáo dục riêng, Đ thời răn đe ngăn chặn phòng ngừa tội phạm chung.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo HĐXX thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân từ thành phần lao động phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã đến cơ quan điều tra đầu thú, trong quá trình điều tra và trước phiên tòa hôm nay khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do vậy cần áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Xét về nhân thân của bị cáo: Ngày 26/9/2022, Đ bị Chủ tịch UBND xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời gian 03 tháng, kể từ ngày 26/9/2022.
Mặc dù bản thân Đ vẫn đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học sửa chữa mà vẫn tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo là con người khó giáo dục. Do vậy xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, sau khi phân tích đánh giá nhân thân của bị cáo, HĐXX xét cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian cần thiết mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo trở thành con người làm ăn lương thiện, áp dụng Điều 38 BLHS đối với bị cáo.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam. Để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX xét cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 329 BLTTHS.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 BLHS phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo số tiền từ 5.000.000 Đ đến 50.000.000 Đ sung công quỹ nhà nước. Xong xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, không có tài sản riêng công ăn việc làm không ổn định nên HĐXX miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về làm ăn lương thiện vừa thể hiện tính nhân đạo pháp luật XNCN.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda - Future X, màu đỏ - đen - xám, biển kiểm sát 98B1-259.15 là vật chứng của vụ án, kết quả điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của gia đình bà Nguyễn Thị M. Chiếc xe này đã được anh Trần Minh H bán cho một người đàn ông không rõ lai lịch; chiếc chìa khóa xe Wave, Đ dùng làm công cụ, phương tiện để trộm cắp đã bị rơi trong quá trình di chuyển tài sản trộm cắp, nên Cơ quan điều tra không thu hồi được các vật chứng nêu trên.
Do Dương Văn Đ chưa bồi thường được cho bà Nguyễn Thị M được khoản tiền nào. Phía bà M yêu cầu Đ bồi thường giá trị chiếc xe là 17.000.000 Đ. Tại phiên tòa bà M yêu cầu Đ phải có trách nhiệm bồi thường cho bà số tiền là 7.000.000 Đ như Hội Đ định giá đã định giá, Đ nhất trí với yêu cầu trên của bà M. Do vậy HĐXX buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường số tiền trên cho bà Nguyễn Thị M.
Về hành vi của những người liên quan: Quá trình điều tra Đ khai: Khi bán chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B1-259.15 trộm cắp được cho anh Trần Minh H, Đ có nói cho anh H biết chiếc xe này là do trộm cắp mà có. Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của anh H, anh H khai: Khoảng 14 giờ ngày 09/10/2022, H đang ở quán sửa xe của mình thì Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda - Future X, màu đỏ - đen
- xám (anh H không nhớ biển kiểm soát) đến đặt vấn đề bán giúp xe, do xe bị mất chìa khóa. Lúc này, anh H kiểm tra thì thấy xe đã cũ, không có dấu hiệu cậy phá nên nghĩ xe là của Đ bị rơi mất chìa khóa và Đ ý mua với giá 2.000.000 Đ. Đến chiều cùng ngày, anh H bán lại chiếc xe này cho một người thanh niên không quen biết được số tiền 2.400.000 Đ.
Do lời khai mâu thuẫn, ngày 02/12/2022 Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Đ và H đối chất nhưng cả hai vẫn giữ nguyên lời khai của mình. Kết quả điều tra xác định, ngoài lời khai của Đ không còn tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh việc anh H biết rõ chiếc xe mô tô do Đ mang đến bán là tài sản do phạm tội mà có nên không đủ căn cứ để xử lý đối với anh Trần Minh H về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Dương Văn Đ ở khu vực ngã tư thị trấn Kép, huyện Lạng Giang. Đ khai không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ đối tượng này.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Dương Văn Đ vào ngày 09/10/2022 ở khu vực ngã tư Kép, thuộc địa bàn thị trấn Kép, huyện Lạng Giang. Ngày 05/12/2022, Công an huyện Lạng Giang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt 1.500.000 Đ.
Tại phiên tòa hôm nay người liên quan trong vụ án vắng mặt, tuy nhiên đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy báo phiên tòa đầy đủ, hợp lệ, do vậy quyền lợi đã được đảm bảo.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH bị cáo Đ không phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 BLTTHS.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 136; Điều 331; Điều 333 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
- Xử phạt Dương Văn Đ 09 (Chín) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 11/10/2022.
Quyết định tạm giam Dương Văn Đ 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/01/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự:
Buộc Dương Văn Đ phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị M số tiền 10.000.000 Đ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Dương Văn Đ không phải chịu tiền án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Báo cho bị cáo, người bị hại, người liên quan có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo, kể từ ngày nhận tống đạt bản án vắng mặt./.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lạng Giang - CQĐT + CQTHAHS Công an LG. - Trại tạm giam CA tỉnh BG. - Bị cáo; Bị hại; - Lưu. | T/M HỘI Đ XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hằng |