- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Tứ H về tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Võ Tứ H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”, xử phạt Võ Tứ H: 12 (Mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HS-ST Ngày 16-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quý.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Thình;
2. Ông Phạm Văn Bình.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Thùy Phương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cam Lộ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2023/TLST - HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Võ Tứ H, sinh ngày 11/11/2003 tại Quảng Trị; nơi cư trú: thôn T, xã C, huyện L, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T, sinh năm 1972 (hiện đang chấp hành bản án tù tại Trại giam Nghĩa An) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1977, cư trú tại thôn T, xã C, huyện L, tỉnh Quảng Trị; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 01/12/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Anh Trần Viết T, sinh năm 2001, trú tại thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị Vân, sinh năm 1977, trú tại: thôn T, xã C, huyện L, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2004, trú tại thôn Đ, xã C, huyện L, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- Anh Trần Hữu E, sinh năm 2003, trú tại thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Anh Đào Văn V, sinh năm 2002, trú tại thôn T, xã C, huyện L, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 05/11/2022 khi đang ở nhà, Võ Tứ H nhận được điện thoại của anh Nguyễn Văn H rủ H đến quán cà phê T, khu phố H, thị trấn C uống cà phê và thông báo việc anh Trần Viết T đang có mặt ở quán. Bực tức chuyện cách đây 15 ngày anh T đánh mình nên H xuống bếp lấy 1 cây dao dắt sau lưng, đi bộ đến nhà anh Đào Văn V, nói dối rủ anh V đi uống cà phê. Anh V điều khiển xe máy biển kiểm soát 74AG-00175 chở H đến cổng phụ quán T. H thấy anh T ngồi gần cổng chính của quán nên đi đến cổng chính gọi anh T ra nói chuyện. Anh T đi ra đứng trước cổng chính nói với H “Tau đi một mình”, H đi đến cách anh T khoảng 1,5m thì rút dao dắt sau lưng cầm ở tay phải, xông đến chém ngang hướng từ phải qua trái về phía bụng anh T, anh T lùi người, tránh được. H tiếp tục vung dao chém hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái vào vùng bên hông của anh T, anh T cúi người tránh thì bị chém trúng vào vùng đầu bên trái, gây thương tích. Lúc này một số người trong quán đến can ngăn nên H cầm dao đi đến vị trí bỏ xe máy và bảo anh V chở về nhà. Anh Trần Viết T được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị đến ngày 08/11/2022 thì ra viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 285/TgT ngày 21/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Trị kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trần Viết T do thương tích gây nên hiện tại là 12%. Thương tích trên do vật có cạnh sắc gây nên.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSCL ngày 05/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ truy tố bị cáo Võ Tứ H tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Võ Tứ H phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội xử phạt: Võ Tứ H từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 cây dao dài 33,3cm.
- Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo tại phiên tòa bồi thường thêm cho bị hại số tiền 4.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố là đúng, không có ý kiến có ý kiến gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trình bày lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V trình bày: Số tiền bị cáo đã bồi thường cho bị hại là tiền của bà V. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tác động với gia đình bồi thường cho bị hại. Về vật chứng: cây dao bị cáo sử dụng gây thương tích là tài sản của bà V, do dao đã cũ nên bà Vân không yêu cầu lấy lại. Bà V đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bố bị cáo bị tàn tật và hiện đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, hoàn cảnh gia đình khó khăn để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Về tội danh: Tại phiên tòa, Võ Tứ H khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện, nội dung lời khai phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định, ngày 05/11/2022, Võ Tứ H chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém anh Trần Viết T gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Hành vi của bị cáo cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với hai tình tiết định khung tăng nặng “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, điều luật có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm.
Tình tiết tăng nặng: không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại đầy đủ cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về mức hình phạt: hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm trực tiếp đến sức khoẻ của người khác mà còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn, thể hiện sự coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét cho bị cáo tuổi đời còn trẻ, gia đình hoàn cảnh khó khăn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên có căn cứ áp dụng Điều 54 xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Cam Lộ đã trả lại một số vật chứng cho chủ sở hữu, việc xử lý có căn cứ và đúng pháp luật. Vật chứng còn lại: 01 cây dao dài 33,33 cm là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Cây dao này là của bà Nguyễn Thị V (mẹ của bị cáo), bà V không yêu cầu lấy lại cây dao nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu, tiêu huỷ.
Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra, bị cáo và bị hại đã thỏa thuận với nhau về việc bồi thường, cụ thể bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.450.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại thỏa thuận về việc bị cáo sẽ bồi thường thêm cho bị hại số tiền 4.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận này không trái pháp luật nên công nhận sự thỏa thuận này.
Về án phí: Áp dụng điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
1. Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Võ Tứ H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”, xử phạt Võ Tứ H: 12 (Mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ 01 cây dao dài 33,3cm; lưỡi dao làm bằng kim loại màu sáng, dài 22cm, phần rộng nhất 04cm, lưỡi dao có một cạnh sắc, trên bề mặt có ghi dòng chữ “KIWWI-BRAND MADE IN THAILAND”; cán dao bằng nhựa màu đen, dài 11,5cm, nơi rộng nhất 03cm, nơi nhỏ nhất 02cm, trên bề mặt có ghi dòng chữ “KIWI”, dao đã qua sử dụng, đã cũ. (hiện đang có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/01/2023).
3. Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại, bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Võ Tứ H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại; - VKSND huyện Cam Lộ; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - Công an huyện Cam Lộ; - Chi cục THADS huyện Cam Lộ; - TAND tỉnh Quảng Trị; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quý |