vanban.org

Bản án 03/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 10/01/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/01/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Lương Văn L về cho Uỷ ban nhân dân xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lương Văn L cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Long "Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ" - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm…"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Lương Văn L về cho Uỷ ban nhân dân xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 305 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN N DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HS-PT
Ngày 10/01/2023

N DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Văn Chắt.

Các Thẩm phán: Bà Thái Thị Hồng Vân

Bà Nguyễn Thị Thu Từ

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên - Thẩm tra viên Tòa án N dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 10/01/2023, tại Tòa án N dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 206/2022/TLPT-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo Lương Văn L, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2022/HS -ST ngày 21 tháng 7 năm 2022 của Tòa án N dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Bị cáo có kháng cáo.

Lương Văn L, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1959 tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: bản T Th, xã Ch L, huyện K S, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ học vấn: lớp 02/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn B và bà Lương Thị B (đều đã chết); vợ: Vi Thị N (tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai Vi Thị Nhẫn), sinh năm 1968 và có 05 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/12/2021 đến ngày 15/12/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Ngoài ra vụ án còn có bị cáo Kha Văn Th không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị. Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Khoảng 8 giờ 00 phút, ngày 06/12/2021 Kha Văn Th đến nhà Lương Văn L tại bản T Th, xã Ch L, huyện K S, tỉnh Nghệ An để rủ L đi sang huyện Quỳ Hợp, tỉnh nghệ An, mua thuốc nổ về để sử dụng và hứa sẽ cho L số tiền 500.000 đồng, L đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 37K1 - 098.00 chở Th đi sang Quỳ Hợp. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Th và L đến địa phận huyện Quỳ Hợp thì gặp một người đàn ông lạ mặt, Th hỏi người đàn ông đó: “Có thuốc nổ để bán không?”, người đàn ông đó đáp: “Có, lấy bao nhiêu?”, Th nói tiếp: “Bán cho năm trăm”, người đàn ông kia đồng ý và nói Th chờ để đi lấy thuốc nổ. Khoảng 15 phút sau, người đàn ông quay lại đưa cho Th01 bì xác rắn màu trắng, bên trong có 01 bì xác rắn màu xanh, trong đó có 05 bao Potylen màu đen, bên trong mỗi bao đều chữa chất bột màu đen. Thđưa cho người đàn ông này số tiền 500.000 đồng, sau đó người đàn ông đó đi đâu không rõ. Th để bao bì xác rắn đựng thuốc nổ lên giá chở hàng giữa xe máy, rồi lên xe mô tô chở L về nhà.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Th và L đi đến xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông, do sợ quá trình đi trên đường về nhà bị lực lượng chức năng phát hiện nên Th xuống xe và nói L chở số thuốc nổ vừa mua được đi gửi tại nhà người quen ở gần đó. Nghe lời Th, L một mình điều khiển xe mô tô chở thuốc nổ đi tìm nhà người quen ở trong bản để gửi, trên đường đến bản Nà Cọ, xã Bình Chuẩn vào lúc 15 giờ cùng ngày thì bị Tổ công tác Công an huyện Con Cuông kiểm tra, phát hiện trên giá xe có 01 bì xác rắn màu trắng, bên trong có 01 bì xác rắn màu xanh có chứa 05 bao Pootylen màu đen, bên trong mỗi bao đều là chất bột màu đen (nghi thuốc nổ) nên đã tiến hàng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Đứng đợi lâu không thấy L lại đón nên Th thuê xe ôm đi về nhà. Đến 18 giờ cùng ngày Thđến Công an huyện Con Cuông đầu thú.

Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 16/12/2021 tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Con Cuông xác định: Số chất bột màu đen có khối lượng 4674 gam. Đã lấy đi giám định 808 gam, còn lại 3866 gam.

Tại bản kết luận giám định số 9031/C09-P2 ngày 04/01/2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an kết luận: “Các mẫu vật gửi đến giám định đều là thuốc nổ đen thuộc nhóm vật liệu nổ, thường dùng để làm liều phóng cho các loại đạn tự chế”.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 34/2022/HS -ST ngày 21 tháng 7 năm 2022 của Tòa án N dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào khoản 1 Điều 305; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Lương Văn L phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ” và xử phạt bị cáo Lương Văn L 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/12/2021 đến ngày 15/12/2021.

Ngoài ra bản án còn tuyên hình phạt đối với bị cáo Kha Văn Th và tuyên xử lý vật chứng, quyết định án phí, quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/8/2022, bị cáo Lương Văn L kháng cáo xin được hưởng án treo vì lý do Tòa án xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ” là nặng. Tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn L giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo L được hưởng án treo.

Bị cáo Lương Văn L không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:

Về nội dung vụ án, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lương Văn L khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của Bản án sơ thẩm; xét, lời khai của bị cáo L phù hợp với lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm, phù hợp vật chứng được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Cụ thể, xác định được ngày 06/12/2021, bị cáo Lương Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 37K1 - 098.00 chở bị cáo Kha Văn Thđi lên huyện Quỳ Hợp mua thuốc nổ cho Bị cáo Thvới số tiền công là 500.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, hai bị cáo đến địa phận huyện Qùy Hợp, Bị cáo Thmua của người đàn ông lạ mặt 05 bao thuốc nổ có khối lượng 4674 gam với số tiền là 500.000 đồng rồi để lên giá chở hàng giữa xe mô tô và Bị cáo Thđiều khiển xe đi về. Khi đi đến khu vực bản Nà Cọ, xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông thì Bị cáo Thxuống xe và nói bị cáo L chở số thuốc nổ đi cất dấu. Vào khoảng 15 giờ cùng ngày L điều khiển xe mô tô đi đến bản Nà Cọ, xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông thì bị Tổ công tác Công an huyện Con Cuông bắt quả tang, thu giữ thuốc nổ, cùng ngày bị cáo Kha Văn Thđã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Con Cuông đầu thú. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lương Văn L về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo L, Hội đồng xét xử thấy bị cáo L và Thcùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự bàn bạc phân công để thực hiện tội phạm, bị cáo L chở thuê cho Bị cáo Thvới số tiền công 500.000 đồng nên xác định vụ án đồng phạm giản đơn trong đó bị cáo L có vai trò thứ yếu trong vụ án. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và xét xử bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu với vai trò thứ yếu, là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, không có tiền án tiền sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao về cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ nghiêm. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An là có căn cứ và phù hợp pháp luật, thể hiện tính nhân văn, khoan hồng của pháp luật.

Về án phí hình sự phúc thẩm: kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.

Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Văn L 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Lương Văn L về cho Uỷ ban nhân dân xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lương Văn L cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Lương Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ