vanban.org

Bản án 03/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 11/01/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/01/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng của của bị cáo Nguyễn Thành Đ.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 35/2022/HS-ST ngày 27/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hòa Bình, cụ thể: Xử phạt Nguyễn Thành Đ 07 năm tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp với 24 tháng tù của Bản án số 37/2022/HS-ST ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hò… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng của của bị cáo Nguyễn Thành Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HS-PT
Ngày: 11-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Mạnh Hùng.

Các Thẩm phán:

Bà Bạch Thị Hồng Hoa.

Ông Vũ Văn Túc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 82/2022/TLPT-HS ngày 05 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2022/HS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hòa Bình.

- Bị cáo có kháng cáo, không bị kháng nghị:

Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1975 tại thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

Nơi cư trú: Tổ 7, phường K, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ con: Chưa có;

Tiền án: 05 (Năm) tiền án.

- Ngày 22/4/1996, bị Tòa án nhân dân tỉnh H xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 23/10/1996, bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh H xử phạt 18 tháng tù về tội Tổ chức dùng chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của hai bản án bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 42 tháng tù. Bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Đối với hình phạt sung công số tiền 1.000.000đ, bị cáo đã nộp 140.000đ, số tiền còn lại 860.000đ hiện chưa thi hành, chưa được miễn giảm thi hành án.

- Ngày 30/9/2009 bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh H xử phạt 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Ngày 20/10/2009 bị Tòa án nhân dân huyện M, thành phố H xử phạt 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 24/12/2009 bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh H xử phạt 02 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt của ba bản án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 năm tù. Bị cáo chưa thi hành khoản tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm. Đối với số tiền bồi thường dân sự 6.998.000đ chưa có đơn yêu cầu thi hành án.

- Ngày 19/4/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh H xử phạt 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.

Tiền sự: Ngày 13/9/2021 bị Công an phường T, thành phố H, tỉnh H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC số tiền 1.500.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản. Bị cáo chưa thi hành.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 26/5/2022 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 26/5/2022, Nguyễn Thành Đ điều khiển xe moto không biển kiểm soát (xe Đ mượn của em trai ruột là Nguyễn Xuân T) đi từ nhà tại tổ 7, phường K, thành phố H lên khu vực bản T, xã L, huyện V, tỉnh S để tìm mua ma túy đem về sử dụng. Tại đây, Đ gặp một người phụ nữ mặc quần áo dân tộc H'mông khoảng 50 tuổi, cao khoảng 1m50, dáng người gầy, da ngăm đen không quen biết đang đi bộ. Đ dừng xe bắt chuyện, hỏi thăm. Đ hỏi người phụ nữ không quen biết: "Có biết ai bán trắng (Heroin) không?". Người phụ nữ quan sát rồi trả lời: "Có, muốn bao nhiêu?". Đ nói: "Muốn mua 1.800.000đ trắng và ít ngựa (Hồng phiến)". Sau khi trao đổi, Đ đưa người phụ nữ số tiền 1.800.000đ, người phụ nữ bảo Đ đứng đợi rồi đi bộ về hướng trung tâm bản T. Khoảng 15 phút sau người phụ nữ quay lại đưa cho Đ một gói quấn nilon màu xanh, Đ mở ra kiểm tra và xác nhận đúng loại ma túy cần mua thì gói lại và giấu trong găng tay bên trái mà Đ đang đeo rồi điều khiển xe quay về. Khi đi đến Km104+400 Quốc lộ 6 thuộc địa phận xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình thì gặp tổ công tác Công an tỉnh Hòa Bình phối hợp với Công an huyện T, Trạm Cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Đ tự giác lấy gói ma túy từ trong găng tay giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận Đ mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đưa Đ cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an huyện T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 141/KL-KTHS ngày 31/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận:

" Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong… gửi giám định có khối lượng 3,14g, là ma túy, loại Heroin.

Heroin nằm trong danh mục I, số thứ tự: 09, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

08 viên nén màu hồng trong phong bì niêm phong… gửi giám định có tổng khối lương 0,79g, là ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine nằm trong danh mục II, số thứ tự: 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại Bản án sơ thẩm số 35/2022/HS-ST ngày 27/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hòa Bình quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Về hình phạt: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thành Đ 07 năm tù. Tổng hợp với 24 tháng tù của Bản án số 37/2022/HS-ST ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Buộc Nguyễn Thành Đ phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26/5/2022.

Ngoài ra, tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý tang vật, vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 09/11/2022, bị cáo Nguyễn Thành Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình, nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nêu bị cáo đã bị xét xử nhiều lần, song không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo không đưa ra tình tiết giảm nhẹ mới, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện T; Điều tra viên; Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa phúc thẩm, một lần nữa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Bản thân bị cáo Nguyễn Thành Đ là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 26/5/2022, bị cáo mua 01 gói heroin và 08 viên hồng phiến với giá 1.800.000đ của một người phụ nữ không quen biết ở khu vực bản T, xã L, huyện V, tỉnh S để sử dụng cho bản thân. Trên đường về, khi đi đến khu vực xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình thì bị cơ quan công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật gồm: 3,14g Heroin và 0,79g Methamphetamine.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, phù hợp với chứng cứ đã thu thập, cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Nguyễn Thành Đ có hành vi tàng trữ 3,14g Heroin và 0,79g Methamphetamine.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tội phạm do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp tới sự độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh một số tội phạm khác. Xét bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được mọi hành vi liên quan đến ma túy nói chung và tàng trữ trái phép chất ma túy nói riêng là vi phạm pháp luật. Song, để có ma túy sử dụng cho bản thân, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Xét bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xét xử, xong không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội đối với bị cáo.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, có khung hình phạt quy định từ 05 đến 10 năm. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để cân nhắc và xử bị cáo mức án 07 năm tù là phù hợp, không nặng. Mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, góp phần răn đe để đấu tranh phòng chống tội phạm tương tự ở địa phương.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được thêm những tình tiết mới nào để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Nguyễn Thành Đông phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng của của bị cáo Nguyễn Thành Đ.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 35/2022/HS-ST ngày 27/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hòa Bình, cụ thể:

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 2 Điều 56, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt Nguyễn Thành Đ 07 năm tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp với 24 tháng tù của Bản án số 37/2022/HS-ST ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Buộc Nguyễn Thành Đ phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26/5/2022.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực từ ngày tuyên án (11/01/2023).

Cỡ chữ