- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa nguyên đơn bà Phạm Thị Băng X với bị đơn ông Tăng Văn Ph"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Băng X về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với ông Tăng Văn Ph như sau:
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST Ngày: 10-01-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thêm.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thảo;
2. Ông Nguyễn Thanh Cần.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Nam - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 206/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Băng X, sinh năm 1988; HKTT: xã VB, thị xã NgN tỉnh STr; tạm trú: tổ 5, khu phố TH, phường Th, thị xã TU, tỉnh BD. Xin vắng mặt.
Bị đơn: Ông Tăng Văn Ph, sinh năm 1979; HKTT: xã VB, thị xã NgN tỉnh STr; tạm trú: Nhà trọ Lê Quốc Sinh, tổ 5, khu phố TH, phường Th, thị xã TU, tỉnh BD. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/8/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Băng X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Băng X và ông Tăng Văn Ph tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VB, thị xã NgN tỉnh STr được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 2/2012 quyển số 01/2012 ngày 08/6/2012.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc đến khoảng thời gian gần đây vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông bà bất đồng ý kiến với nhau. Vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ sống chung nhưng không thành. Bà X nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà X yêu cầu ly hôn với ông Ph.
Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung tên Tăng Phước Tr, sinh ngày 09/11/2006 và Tăng Thị Khánh B, sinh ngày 07/10/2010. Khi ly hôn bà X yêu cầu được quyền nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông Ph phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Tăng Văn Ph vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án.
Cháu Tăng Phước Tr và Tăng Thị Khánh B có văn bản trình bày ý kiến muôn sống chung với bà Phạm Thị Băng X.
Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân phường Tân Hiệp, địa phương không biết nguyên nhân dẫn tới việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Phạm Thị Băng X và ông Tăng Văn Ph vì không nhận được tin báo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên phát biểu tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên.
Về nội dung: Bà Phạm Thị Băng X và ông Tăng Văn Ph có đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Nguyên nhân bà X yêu cầu ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường X xảy ra mâu thuẫn, hiện nay vợ chồng không còn sống chung nên bà X yêu cầu ly hôn với ông Ph là có căn cứ. Về con chung: bà X yêu cầu được quyền nuôi dưỡng hai con chung phù hợp với nguyện vọng của con; tài sản chung, nợ chung: bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phạm Thị Băng X có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Tăng Văn Ph nên đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Tăng Văn Ph có địa chỉ tại phường TH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Phạm Thị Băng X có đơn xin vắng mặt. Ông Tăng Văn Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để giải quyết vụ án vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Băng X và ông Tăng Văn Ph là những người đủ điều kiện kết hôn; ông bà tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VB, huyện NgN, tỉnh STr được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 2/2012 quyển số 01/2012 ngày 08/6/2012 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà X yêu cầu ly hôn với ông Ph do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thương X cãi vã nhau và hiện nay bà X không còn tình cảm với ông Ph. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng không thể đoàn tụ sống chung nên bà X yêu cầu ly hôn với ông Ph là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung Tăng Phước Tr, sinh ngày 09/11/2006 và Tăng Thị Khánh B, sinh ngày 07/10/2010. Bà X yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai còn chung sau khi ly hôn và nguyện vọng của các cháu cũng muốn sống chung với mẹ. Do đó yêu cầu của bà X là cơ sở chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà X không yêu cầu ông Tăng Văn Ph cấp dưỡng nuôi còn nên Tòa án ghi nhận sự tự nguyện của bà.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật.
Về án phí: Nguyên đơn bà Phạm Thị Băng X phải chịu theo quy định điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 146, 147, 227, 228,238, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Băng X về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với ông Tăng Văn Ph như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Băng X được ly hôn với ông Tăng Văn Ph.
- Về con chung: Giao con chung tên Tăng Phước Tr, sinh ngày 09/11/2006 và Tăng Thị Khánh B, sinh ngày 07/10/2010 cho bà Phạm Thị Băng X trực tiếp nuôi dưỡng; ông Tăng Văn Ph không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Phạm Thị Băng X và ông Tăng Văn Ph đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp lạm dụng quyền đi lại thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí: Bà Phạm Thị Băng X phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0006216, ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Tân Uyên; - Chi cục THADS thị xã Tân Uyên; - Các đương sự; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Hồng Thêm |