- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Hồng P được ly hôn với ông Phan Văn U.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20-3-2023 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạc Văn Hên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Chiến.
2. Bà Chung Thị Ngọc.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Tú, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên tham gia phiên toà: Bà Lâm Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 180/2022/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1977. Địa chỉ: Khu phố N, phường C, thành phố T, tỉnh Kiên Giang, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phan Văn U, sinh năm 1973. Địa chỉ: Khu phố N, phường C, thành phố T, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 05/10/2022 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng P trình bày: Bà và ông Phan Văn U chung sống với nhau từ năm 1995, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Tô Châu, thị xã Hà Tiên (nay là thành phố Hà Tiên) cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 21/10/2002. Thời gian đầu vợ chồng chung sống có hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông U có người phụ nữ bên ngoài không quan tâm đến cuộc sống vợ con, khi về nhà thì đập phá đồ đạc, bà đã nhiều lần nộp đơn khởi kiện xin ly hôn với ông U nhưng qua sự động viên hòa giải của Tòa án, bà đã rút đơn khởi kiện để vợ chồng có cơ hội hàn gắn lo cho gia đình nhưng ông U vẫn không thay đổi tính tình. Nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên bà xin được ly hôn với ông Phan Văn U.
Về con chung: Có bốn đứa con tên Phan Văn Minh Đ, sinh ngày 11/10/1996, giới tính nam; Phan Thị Phượng H, sinh ngày 09/02/2002, giới tính nữ; Phan Việt M, sinh ngày 19/5/2008, giới tính nam; Phan Thị Kim T, sinh ngày 04/9/2009, giới tính nữ. Hai đứa con tên Phan Văn Minh Đ và Phan Thị Phượng H đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Hai đứa con tên Phan Việt M và Phan Thị Kim T hiện nay đang sống với bà, ly hôn bà xin được tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu ông U cấp dưỡng chi phí nuôi con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng đã tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Phan Văn U đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông U vẫn không có ý kiến về vụ án.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên phát biểu về việc tuân theo tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Bà P và ông U chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, trong quá trình chung sống ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông bà đã ly thân không còn yêu thương chăm sóc nhau nữa, xét thấy tình trạng hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P. Về con chung hai đứa con tên Phan Văn Minh Đ và Phan Thị Phượng H đã trưởng thành không xem xét, giải quyết; hai đứa con tên Phan Việt M và Phan Thị Kim T đang sống với bà P nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con, ghi nhận ý kiến của bà P không yêu cầu ông U cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung đã tự thỏa thuận và về nợ chung không có nên không xem xét; Về án phí bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp ly hôn. Trong vụ án này bị đơn ông Phan Văn U cư trú tại khu phố N, phường C, thành phố T, tỉnh Kiên Giang, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Phan Văn U đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
Về hôn nhân: Ông U và bà P chung sống với nhau và được Ủy ban nhân dân phường Tô Châu, thị xã Hà Tiên (nay là thành phố Hà Tiên), tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 046, quyển số I/2002, ngày 21/10/2002, đây là hôn nhân hợp pháp. Tại biên bản xác minh ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên (BL 30, 31) được Ban lãnh đạo khu phố 3, phường Tô Châu cung cấp thông tin vợ chồng ông U và bà P chung sống có xảy ra cự cải dẫn đến ông U đập phá đồ đạc trong nhà. Mặt khác, bà P đã nhiều lần nộp đơn xin ly hôn với ông U, sau đó xin rút lại đơn khởi kiện để vợ chồng trở về đoàn tụ nhưng vẫn không chung sống được với nhau. Xét thấy, quá trình chung sống ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông bà đã ly thân không còn yêu thương chăm sóc cho nhau nữa, đã bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông U và bà P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Ông bà có bốn đứa con tên Phan Văn Minh Đ, sinh ngày 11/10/1996, giới tính nam; Phan Thị Phượng H, sinh ngày 09/02/2002, giới tính nữ; Phan Việt M, sinh ngày 19/5/2008, giới tính nam; Phan Thị Kim T, sinh ngày 04/9/2009, giới tính nữ. Đ và H đã trưởng thành nên không xem xét, giải quyết; M và T đang sống cùng bà P, ly hôn bà P xin được tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với nguyện vọng của các con. Do đó, cần giao Phan Việt M và Phan Thị Kim T cho bà P nuôi dưỡng, ghi nhận ý kiến của bà P không yêu cầu ông U cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà P trình bày đã tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà P trình bày không có nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Hồng P được ly hôn với ông Phan Văn U.
2. Về con chung: Giao con tên Phan Việt M, sinh ngày 19/5/2008, giới tính nam và Phan Thị Kim T, sinh ngày 04/9/2009, giới tính nữ cho bà Nguyễn Thị Hồng P nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ghi nhận sự tự nguyện của bà P không yêu cầu ông U cấp dưỡng nuôi con chung. Bà P cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông U trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Đã tự thỏa thuận phân chia nên không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000729 ngày 25 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang nên bà không phải nộp thêm.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND thành phố Hà Tiên; - Chi cục THADS thành phố Hà Tiên; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Mạc Văn Hên |