- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phi- Chính"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Phi, cho chị Nguyễn Thị Phi được ly hôn anh Trần Văn Chính.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số: 03/2023/HNGĐ-ST Ngày 10-02 - 2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Huệ và ông Lưu Xuân Hiến
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Huyền Chi – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Thái Nguyên: Ông Vũ Đại Dương- Kiểm sát viên
Ngày 10/02/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 119/2022/TLST-HNGĐ ngày 19/10/2022 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23/12/2022, giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phi, sinh năm 1993; có mặt.
Bị đơn: Anh Trần Văn Chính, sinh năm 1990; vắng mặt.
Đều trú tại: TDP Phú Thái, phường Lương Sơn, Tp Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai và trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phi trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn Chính kết hôn 2018, đăng ký tại UBND phường Lương Sơn, Tp Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; trước khi kết hôn có tìm hiểu, kết hôn là tự nguyện, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn từ cuối năm 2019. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng giữa năm 2020. Sau khi chị sinh cháu thứ hai thì anh Chính có thăm con rồi lại đi, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng đã không thể hàn gắn được nữa. Chị Phi đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Văn Chính để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Huyền Anh sinh ngày 29/12/2018 và Trần Tường An, sinh ngày 08/01/2021. Hiện nay hai con đều đang ở với mẹ. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 2 con chung, không yêu cầu anh Chính cấp dưỡng nuôi con chung.
-Về tài sản chung nợ chung: Không có , không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về án phí : Chị Phi tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã thụ lý vụ án tranh chấp ly hôn theo yêu cầu khởi kiện, Toà án đã tiến hành xác minh tại Công an phường Lương Sơn, thành phố Sông Công xác định: Anh Trần Văn Chính, sinh năm 1990 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại TDP Phú Thái, phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Số hồ sơ hộ khẩu 4295Q68T72; chủ hộ là anh Trần Văn Chính, sinh năm 1990, có vợ là Trần Thị Phi và các con Trần Huyền Anh, Trần Tường An. Hiện nay anh Chính chưa làm thủ tục cắt chuyển hộ khẩu với chính quyền địa phương.
Xác minh tại TDP Phú Thái, phường Lương Sơn, Tp Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; tổ trưởng tổ dân phố xác nhận anh Chính là công dân sinh hoạt tổ dân phố, hiện tại anh Chính đi làm ăn xa, không thường xuyên có mặt tại gia đình.
Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tài liệu chứng cứ và hoà giải nhiều lần để hoà giải cho chị Phi và anh Chính về đoàn tụ, nhưng anh Chính không đến Toà án giải quyết vụ án , đến nay chị Phi vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với anh Chính. Do anh Chính vắng mặt tại các phiên hoà giải; Toà án không tiến hành hòa giải được, nên vụ án được xét xử công khai ngày hôm nay.
Tại phiên Toà, đại diện VKS nhân dân thành phố Sông Công phát biểu quan điểm: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn và con chung” căn cứ điều 28, 35,39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Sông Công. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án, đã được thực hiện theo đúng trình tự tố tụng, không có vi phạm, không có đề xuất kiến nghị gì.
* Về quan điểm giải quyết vụ án :
- Về quan hệ vợ chồng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phi, cho chị Phi được ly hôn với anh Chính.
- Về con chung: Đề nghị giao cho chị Phi trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc 02con chung là Trần Huyền Anh sinh ngày 29/12/2018 và Trần Tường An, sinh ngày 08/01/2021
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Phi không yêu cầu anh Chính cấp dưỡng, nên tạm hoãn việc cấp dưỡng con chung đối với anh Chính.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: Chị Phi phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc tranh chấp ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Toà án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo phiên hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên toà cho anh Chính theo đúng quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng anh Chính vẫn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Chính.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2018 chị Nguyễn Thị Phi và anh Trần Văn Chính kết hôn và đăng ký tại UBND phường Lương Sơn, Thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống,thường xuyên xảy ra cãi cã. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Hội đồng xét xử xét thấy, anh Chính mặc dù đã được Toà án báo gọi, niêm yết thông báo về việc chị Phi xin ly hôn nhưng không có mặt tại Toà án để hoà giải vợ chồng đoàn tụ. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Phi làm đơn xin ly hôn là có cơ sở. Do đó chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Phi, cho chị Phi được ly hôn với anh Chính là phù hợp với thực tế và Điều 51, 56 luật hôn nhân gia đình năm 2015.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung cháu là Trần Huyền Anh sinh ngày 29/12/2018 và Trần Tường An, sinh ngày 08/01/2021. Hiện tại cháu Trần Huyền Anh và Trần Trường An đang sống cùng chị Phi, được chị Phi chăm sóc, nuôi dưỡng phát triển tốt. Do đó cần giao cả 2 cháu cho chị Phi trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh Chính có quyền đi lại thăm nom con chung. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con với anh Chính do chị Phi không có yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Phi phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 180, 227, 228; Điều 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Phi, cho chị Nguyễn Thị Phi được ly hôn anh Trần Văn Chính.
2. Về con chung: Giao con chung là Trần Huyền Anh sinh ngày 29/12/2018 và Trần Tường An, sinh ngày 08/01/2021 cho chị Nguyễn Thị Phi trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có sự thay đổi khác. Anh Chính có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
3.Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Chính cho đến khi chị Phi có yêu cầu.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phi phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách Nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0001696 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho chị Phi có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Chính có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - VKSND TPSCTN; - Chi cục THATPSCTN; - Các đương sự; - UBND P.Lương Sơn, TPSCTN; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Lan Anh |