vanban.org

Bản án 03/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Đ được ly hôn với ông Trần Viết C.

Về án phí: Bà Phạm Thị Đ phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Bà Đ đã nộp đủ số tiền án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005367 ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Đ được ly hôn với ông Trần Viết C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST
Ngày 17-01-2023
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đỗ Đức Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Bà Hà Thị Nga.

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân , thành ph ố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 126/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 837/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Đ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 27/380 T, phường H, quận L, thành phố H; nơi ở: Số 181/183 H, phường H, quận N, thành phố H; vắng mặt

- Bị đơn: Ông Trần Viết C; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 27/380 T, phường H, quận L, thành phố H; nơi ở: Số 23/66 C, phường D, quận L, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 6 năm 2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là bà Phạm Thị Đ trình bày:

Bà và ông Trần Viết C xây dựng gia đình với nhau từ năm 1987, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo P tục tập quán địa phương và đã tiến hành làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố H. Sau khoảng hơn 10 năm, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung và không còn quan tâm đến nhau. Hai bên thường xuyên xảy ra xung đột dẫn đến cuộc sống vợ chồng ngày càng trở nên căng thẳng, trầm trọng. Đến đầu năm 2022 vợ chồng sống ly thân, bà Đ cùng con ra ngoài thuê nhà sinh sống. Đến nay, qua nhiều lần hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả, bà Đ xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, hôn nhân không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Trần Viết C.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Duy P, sinh ngày 07/10/1987, đến nay đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về tài sản chung: Bà Đ trình bày vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, tiến hành tổ chức phiên tiếp cận chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa, ông Trần Viết C đều vắng mặt không có lý do và cũng không có quan điểm trình bày. Tòa án đã triệu tập, niêm yết theo quy định của pháp luật, nhưng ông C không chấp hành, mặc dù vẫn đang sinh sống tại địa phương.

Tại phiên tòa, Bà Phạm Thị Đ có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm như đã nêu trong đơn khởi kiện, bản tự khai của mình.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời phát biểu quan điểm về nội dung giải quyết vụ án trên cơ sở đánh giá, phân tích về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng theo quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc tuyên xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, bị đơn là ông Trần Viết C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 27/380 T, phường H, quận L, thành phố H và nơi ở tại số 23/66 C, phường D, quận L, thành phố H. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Phạm Thị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Trần Viết C hai lần vắng mặt tại phiên tòa không có lý do dù đã đuộc Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Phạm Thị Đ và ông Trần Viết C xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào ngày 22/01/1987. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa bà Phạm Thị Đ và ông Trần Viết C là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2012 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong tính cách, sinh hoạt, có xảy ra xô xát, chửi bới xúc phạm lẫn nhau. Cuộc sống gia đình trở nên căng thẳng, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau về mọi mặt. Đến nay bà Đ xác định mâu thuẫn quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục hôn nhân nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông C. Kết quả xác minh tại tổ dân phố và đại diện gia đình đều xác nhận bà Đ và ông C có xảy ra mâu thuẫn trong cuộc sống, đã hòa giải nhưng không thể khắc phục, hôn nhân không còn hạnh phúc và đều tôn trọng quyết định ly hôn của bà Đ.

Về phía ông Trần Viết C, Tòa án đã thông tin liên lạc, niêm yết, giao các thông báo đến nơi cư trú của ông, nhưng ông C đều vắng mặt không có lý do. Mặt khác, ông C cố tình trốn tránh không phối hợp làm việc với Tòa án, không có quan điểm đối với yêu cầu ly hôn của bà Đ. Điều này thể hiện thái độ không tôn trọng, chấp hành pháp luật của ông C, cũng đồng thời làm rõ việc mâu thuẫn giữa bà Đ và ông C là có thật (mặc dù đã có tác động hòa giải của hai bên gia đình). Từ đó cho thấy phần trình bày của bà Đ trong đơn khởi kiện cũng như tại các văn bản khác là có cơ sở.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị Đ với ông Trần Viết C là có căn cứ, phù hợp các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về con chung:

Vợ chồng có 01 con chung là Trần Duy P, sinh ngày 07/10/1987, đến nay đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung:

Bà Phạm Thị Đ có quan điểm vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông C không có quan điểm về tài sản chung. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về án phí:

Bà Phạm Thị Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 19, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Đ được ly hôn với ông Trần Viết C.

- Về án phí: Bà Phạm Thị Đ phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Bà Đ đã nộp đủ số tiền án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005367 ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Phạm Thị Đ và bị đơn ông Trần Viết C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ