- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị L Th M H được ly hôn với anh V V H.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢƠNG DƢƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST Ngày 22- 02- 2023 V/v: Tranh chấp hôn nhân & gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Hưng
Ông Cụt Xuân Ninh
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lô Văn Tim - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 03/2023/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXX-ST ngày 02 tháng 02 năm 2023 và giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị L Th M H, sinh năm 1989. Có đơn xét xử vắng mặt
Trú tại: Thôn Đ Đ, xã K Tr, huyện K A, tỉnh Hà Tĩnh
2. Bị đơn: Anh V V H. Sinh năm 1981. Có đơn xét xử vắng mặt
Trú tại: Bản C, thị trấn Th Gi, huyện T D, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn nộp ngày 09 tháng 01 năm 2023 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị L Th M H trình bày:
Tình cảm: Chị H và anh V V H tìm hiểu nhau được một thời gian thì kết hôn vào năm 2010. Chị H và anh H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạch Giám (nay là thị trấn Th Gi), huyện T D, tỉnh Nghệ An vào ngày 26 tháng 03 năm 2010 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh từ đầu năm 2019, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do, vợ chồng sống tính cách không hợp nhau, bất đồng về mọi mặt trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, xúc phạm nhau thậm tệ, vợ chồng cãi nhau thường xuyên nên lâu dần không còn tiếng nói chung, bản thân chị H đã cố gắng hàn gắn cuộc sống vợ chồng vì con nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nên vào năm 2019 chị H quyết định đưa các con về nhà ngoại ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh sinh sống và vợ chồng cũng sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị H có nguyện vọng ly hôn để ổn định cuộc sống và công việc.
- Về con chung: Chị H và anh H có 02 con chung là cháu V A Tr, sinh ngày 05/3/2011 và cháu V A T, sinh ngày 07/10/2015 hiện nay cháu đang sống với chị H tại Thôn Đ Đ, xã K Tr, huyện K A, tỉnh Hà Tĩnh. Khi vợ chồng ly thân chị H đưa hai cháu Trúc và cháu Tuyết về huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh sinh sống, hai cháu quen sống với môi trường, sinh hoạt tại đây. Vì vậy nếu ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai ngày 11 tháng 01 năm 2023 bị đơn anh V V H trình bày:
Tình cảm: Anh H và chị L Th M H tìm hiểu nhau được một thời gian thì kết hôn vào năm 2010. Anh H và chị H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạch Giám (nay là thị trấn Th Gi), huyện T D, tỉnh Nghệ An vào ngày 26 tháng 03 năm 2010 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh từ đầu năm 2019, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do, vợ chồng sống tính cách không hợp nhau, bất đồng về mọi mặt trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, xúc phạm nhau thậm tệ, năm 2019 chị H đưa con về nhà ngoại ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh sinh sống và vợ chồng cũng sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, anh H đồng ý ly hôn với chị H để ổn định cuộc sống và công việc.
Về con chung: Anh H và chị H có 02 con chung là cháu V A Tr, sinh ngày 05/3/2011 và cháu V A T, sinh ngày 07/10/2015 hiện nay cháu đang sống với chị H tại Thôn Đ Đ, xã K Tr, huyện K A, tỉnh Hà Tĩnh. Khi vợ chồng ly thân chị H đưa hai cháu Trúc và cháu Tuyết về huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh sinh sống, hai cháu quen sống với môi trường, sinh hoạt tại gia đình nhà ngoại, bản thân các cháu là con gái nên để chị H chăm sóc nuôi dưỡng thì hợp lý hơn. Nên nếu vợ chồng ly hôn anh H có nguyện vọng các cháu Trúc và Tuyết giao cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con anh H và chị H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết
Biên bản lấy lời khai ngày 10/01/2023 cháu V A Tr trình bày: Cháu Trúc có nguyện vọng ở với chị H và không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con.
Biên bản lấy lời khai ngày 10/01/2023 cháu V A T trình bày: Cháu Tuyết có nguyện vọng ở với chị H và không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng:
Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn, bị đơn: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L Th M H cụ thể như sau: Quan hệ hôn nhân chị L Th M H được ly hôn với anh V V H; Về con chung giao các cháu V A Tr, sinh ngày 05/3/2011 và cháu V A T, sinh ngày 07/10/2015 cho chị L Th M H chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành; Về cấp dưỡng: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H; Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Anh V V H có hộ khẩu thường trú tại bản C, thị trấn Th Gi, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Căn cứ Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị L Th M H và bị đơn Anh V V H thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An. Nguyên đơn, Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án án xét xử vắng mặt bị đơn.
Quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H kết hôn với nhau vào năm 2010 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và được Ủy ban nhân dân xã Thạch Giám (nay là thị trấn Th Gi), huyện T D, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn tại số 19, quyển số 01/2010 ngày 26/3/2010 vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp.
Nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H trong quá trình sống chung bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và đã sống ly thân với nhau từ năm 2019. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị H và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Con chung: Chị H và anh H có 02 con chung là cháu V A Tr, sinh ngày 05/3/2011 và cháu V A T, sinh ngày 07/10/2015 hiện nay đang sống chung với chị H tại Thôn Đ Đ, xã K Tr, huyện K A, tỉnh Hà Tĩnh. Chị H và anh H đều có nguyện vọng giao hai cháu T và cháu Tr cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành. Chị H và anh H đều không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con. Cháu Tuyết và cháu Trúc đều có nguyện vọng ở với chị H.
Xét thấy nguyện vọng của các bên là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, cũng như quy định của pháp luật nên cần chấp nhận nguyện vọng của các bên là phù hợp.
Tài sản, nợ chung: Chị H và anh H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí và quyền kháng cáo: Chị L Th M H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, và Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị L Th M H được ly hôn với anh V V H.
2. Con chung:
- Giao hai cháu V A Tr, sinh ngày 05/3/2011 và cháu V A T, sinh ngày 07/10/2015 cho chị L Th M H chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành.
- Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H.
- Anh H có quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí: Chị L Th M H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010749 ngày 09/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND H.T D; - UBND TT Thạch Giám; - Các đương sự; - Chi cục THADS H.T D; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Ái |