- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T yêu cầu ly hôn với anh Q vì mâu thuẫn gia đình, con chung, không cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với anh Nguyễn Văn Q.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06/02/2023 V/v: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài.
Ông Đặng Quang Hoạch.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Đạo – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 970/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/12/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05/01/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1992.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1989.
Cùng địa chỉ: Tổ 6, ấp 1, xã S, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
(chị T, anh Q vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai, biên bản làm việc có trong hồ sơ vụ án, chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Q tự nguyện tìm hiểu và yêu thương nhau nên chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2013. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh Q thường xuyên ăn nhậu và bài bạc, không có trách nhiệm với với gia đình. Chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Q vẫn không thay đổi; hiện vợ chồng còn chung sống với nhau nhưng 01 năm không còn quan tâm đến nhau, hôn nhân không hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Q.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị Ánh N, sinh ngày 19/02/2016 và Nguyễn Văn Q, sinh ngày 05/8/2019. Ly hôn, chị yêu cầu được nuôi hai con chung và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 02/11/2022, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn Q đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, sau khi thu thập tài liệu chứng cứ, Tòa án không thông báo cho các đương sự là vi phạm khoản 5 Điều 97 Bộ luật tố dụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị T là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị cho chị T được ly hôn với anh Q. Về con chung: Giao cháu Nguyệt và cháu Quyền cho chị T nuôi dưỡng, tạm thời anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không đặt ra xem xét. Về án phí: Chị T phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Chị Nguyễn Thị T nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1989; địa chỉ: Tổ 6, ấp 1, xã S, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
Về thủ tục tố tụng:
Chị T nộp đơn đúng trình tự thủ tục nên được thụ lý, giải quyết.
Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt chị T.
Anh Q đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh.
Về yêu cầu khởi kiện:
3.1 Về quan hệ hôn nhân:
Chị T và anh Q tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn, được UBND xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 08/KH ngày 01/2/2013 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, chị T kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh Q, hiện không ai quan tâm nhau, hôn nhân không hạnh phúc. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhiều lần triệu tập anh Q để làm việc nhưng anh Q vắng mặt không có lý do, thể hiện việc anh không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ. Từ những căn cứ trên, xét mâu thuẫn giữa chị T và anh Q là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn với anh Q là có cơ sở, phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.2 Về con chung:
Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ánh N, sinh ngày 19/02/2016 và Nguyễn Văn Q, sinh ngày 05/8/2019. Ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi hai con chung, tạm thời chị T không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử giao cháu Nguyệt và cháu Quyền cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
3.3 - Về tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 220, 228, 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 9, 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010); Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với anh Nguyễn Văn Q.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Ánh N, sinh ngày 19/02/2016 và cháu Nguyễn Văn Q, sinh ngày 05/8/2019 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh Nguyễn Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Nguyễn Văn Q được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nhưng trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001692 ngày 05/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí.
5. Anh Nguyễn Văn Q, chị Nguyễn Thị T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAT, THA,VKS; - Đương sự; - UBND xã V. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hƣơng |