- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ H - Nguyễn Thanh T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/1…
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 01 - 2023 V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Diễm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Hồng Hạnh
2. Ông Nguyễn Văn Đen
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Tú, kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 232/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 648/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp THA, xã TL, huyện PĐ, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1992
Địa chỉ: Ấp TPA, thị trấn TL, huyện TL, thành phố Cần Thơ.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H trình bày: Chị và anh Nguyễn Thanh T chung sống có tổ chức lể cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào năm 2016. Vợ chồng chị có 01 người con chung tên Nguyễn Bảo Th, sinh ngày 26/4/2016. Quá trình chung sống, vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn. Khoảng 3 năm nay chị và anh T không còn chung sống với nhau, anh T về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Chị và anh T cũng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có hiệu quả. Nay chị cảm thấy không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu được ly hôn với anh T. Vợ chồng chị không có tạo lập được tài sản và không có nợ ai. Hiện nay cháu Bảo Th đang sống cùng chị, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng.
Bị đơn Nguyễn Thanh T đã được tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và không có ý kiến phẩn hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoàn 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81 luật hôn nhân gia đình 2014. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ H. Giao cháu Nguyễn Bảo Th, sinh ngày 26/4/2016 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Không giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, do ông T không yêu cầu. Không giải quyết về tài sản chung và nợ chung, do nguyên đơn xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Mỹ H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh T có địa chỉ thường trú tại ấp TPA, thị trấn TL, huyện TL, thành phố Cần Thơ. Căn cứ Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TL.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Nguyễn Thanh T có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Hôn nhân giữa chị H và anh T là tự nguyện và hợp pháp. Chị H xác định vợ chồng chị không còn tình cảm với nhau, không còn quan tâm lẫn nhau và đã không còn yêu thương nhau. Cả hai đã không còn chung sống với nhau gần 03 năm nay.
Tại biên bản xác minh ngày 18/11/2022, ông Nguyễn Thanh S là cha ruột anh T xác định có biết việc anh T và chị H không còn chung sống với nhau nữa, nhưng ông cũng không rõ mâu thuẫn gì. Hiện nay anh T đi làm ở Hà Nội, thỉnh thoảng mới về. Ông cũng không biết địa chỉ nơi anh T làm việc. Những lần Tòa án thông báo hay triệu tập thì ông và anh chị của anh T đều có thông báo cho anh T biết. Anh T có thể hiện ý kiến là đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị H. Tuy nhiên, vì bận nhiều việc nên anh T không thể về. Ông S còn xác định hiện nay cháu Bảo Th đang sống cùng chị H.
Hội đồng xét xử xét thấy, chị Nguyễn Thị Mỹ H và anh Nguyễn Thanh T đã không còn chung sống với nhau nhiều năm, chị H không muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân nên có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Anh T biết việc chị H khởi kiện ly hôn nhưng cũng không mong muốn đoàn tụ. Xét thấy đời sống hôn nhân giữa chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh T.
Về con chung: Chị H và anh T có 01 người con chung tên Nguyễn Bảo Th, sinh ngày 26/4/2016, hiện nay cháu Th đang sống cùng chị H. Anh T cũng không có ý kiến gì về yêu cầu được nuôi con của chị H. Mặc khác, để đảm bảo cho sự phát triển tâm sinh lý bình thường của cháu Th, nhằm không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của cháu, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Th cho chị H nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Chị Nguyễn Thị Mỹ H không yêu cầu anh Nguyễn Thanh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định không có nợ chung và tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ H đối với anh Nguyễn Thanh T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo Th, sinh ngày 26/4/2016 cho chị Nguyễn Thị Mỹ H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh Nguyễn Thanh T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng. Chị H đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005683 ngày 14/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện TL được chuyển thu án phí.
4. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện TL; - TAND TP Cần Thơ; - Cơ quan THA huyện TL; - Lưu: HS; VT-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Ngọc Diễm |