- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị H - Lò Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Lò Văn T
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TAND HUYỆN TU TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST Ngày 12-01-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Huy Vượng và Ông Nguyễn Hữu Thức
- Thư ký phiên toà: Ông Giang Tiến Hiệp -Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2022 về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1995; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: bản Ph, xã TĐ, huyện TU, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
2. Bị đơn: anh Lò Văn T, sinh năm 1993; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Ph, xã TĐ, huyện TU, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” cùng các lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lò Văn T về chung sống với nhau từ năm 2010 nhưng đến ngày 06/5/2013 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TĐ, huyện TU, tỉnh Lai Châu. Việc kết hôn giữa chị và anh T hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Năm 2016 vợ chồng bắt đầu mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên cờ bạc, rượu chè, phá tán tài sản của gia đình, chị nhiều lần khuyên can nhưng anh T không nghe và còn đánh, chửi chị. Nhiều lần chị và anh T được gia đình hai bên và trưởng bản khuyên can nhưng hai vợ chồng vẫn không thể hòa hợp. Đến tháng 8 năm 2022 chị quyết định đi làm thuê ở tỉnh Bắc Ninh để lấy tiền nuôi các con ăn học và từ đó vợ chồng chị không quan tâm đến nhau nữa. Chị xét thấy không còn tình cảm và không còn yêu tH anh T, cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
2. Về con chung: Chị và anh Lò Văn T có 02 con chung là Lò Văn Nh, sinh ngày 22/3/2011 và Lò Văn L, sinh ngày 09/7/2012. Hiện nay con chung Lò Văn Nh đang ở cùng chị H và ông bà ngoại, còn con chung Lò Văn L đang ở cùng với anh T. Chị có nguyện vọng sau khi ly hôn chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chung cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh T phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung. Vì anh T thường xuyên uống rượu và hay đi chơi cờ bạc, bỏ mặc các con nên chị không yên tâm. Chị cam đoan sẽ thu xếp công việc đi làm thuê tại huyện TU, tỉnh Lai Châu để có điều kiện trực tiếp chăm sóc các con, không đi làm xa nữa.
3. Về chia tài sản: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Sau khi thụ lý vụ án, anh Lò Văn T mặc dù biết chị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn và được chị H giao các tài liệu chứng cứ đã giao nộp cho Tòa theo hướng dẫn của Tòa án. Anh T đã được Tòa án triệu tập, thông báo hợp lệ đến Tòa để làm việc nhưng cố tình vắng mặt mà không có lý do. Tòa án đã tiến hành các thủ tục lấy lời khai của anh T ngoài trụ sở Tòa án. Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/12/2022 anh T trình bày: Anh không Nh trí ly hôn với chị H; về con chung: anh cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu chị H phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con, nếu các con có nguyện vọng ở với mẹ là chị H thì anh tôn trọng ý kiến của các con; về chia tài sản: anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, tỉnh Lai Châu phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án; thụ lý đơn yêu cầu ly hôn; việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương sự trong vụ án; việc ra và gửi thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa không có lý do là vi phạm về nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, 35, 39, Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58 và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị H và xem xét quyết định:
Về quan hệ hôn nhân chị H được ly hôn với anh T; về con chung: Giao 02 con chung là Lò Văn Nh, sinh ngày 22/3/2011 và Lò Văn L, sinh ngày 09/7/2012 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Do chị H không yêu cầu anh T phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; Về chia tài sản chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị xem xét; về án phí: nguyên đơn chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Anh Lò Văn T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản Ph, xã TĐ, huyện TU, tỉnh Lai Châu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh Lai Châu. Anh T đã được Tòa án T đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng cố tình vắng mặt không có lý do. Chị H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Ngày 29/12/2022, Tòa án nhân dân huyện TU đã tiến hành mở phiên tòa lần thứ Nh, mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, anh T tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Lò Văn T là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H và anh Lò Văn T về chung sống với nhau từ năm 2010 nhưng đến ngày 06/5/2013 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TĐ, huyện TU, tỉnh Lai Châu. Việc kết hôn giữa chị và anh T hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp. Quá trình chung sống chị H và anh T hạnh phúc được 06 năm, sau đó phát sinh mâu thuân do anh T thường xuyên uống rượu, đánh chửi chị H nên tình cảm vợ chồng không còn. Chị H đã sống ly thân với anh T từ tháng 8 năm 2022 đến nay, hai vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Anh T biết việc chị H xin ly hôn và không Nh trí nhưng cố tình không đến Tòa án để làm các thủ tục ly hôn với chị H. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoảng thời gian mâu thuẫn giữa chị H và anh T kéo dài, giữa chị H và anh T không còn dành sự quan tâm, yêu tH, chăm sóc lẫn nhau nữa. Đặc biệt chị H không còn tình cảm yêu tH đối với anh T, không còn hạnh phúc khi chung sống với anh T. Hội đồng xét xử nhận thấy hôn nhân giữa chị H và anh T đã thực sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T là hoàn toàn có căn cứ theo theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Hiện nay con chung Lò Văn Nh đang ở cùng chị H và ông bà ngoại, còn con chung Lò Văn L đang ở cùng với anh T. Chị H và anh T đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Các con chung đều thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ với lý do bố hay uống rượu, chơi cờ bạc và đánh mẹ. Anh T tôn trọng ý kiến của các con tại Biên bản lấy lời khai (BL34). Do vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao hai con chung Lò Văn Nh, sinh ngày 22/4/2011 và Lò Văn L, sinh ngày 09/7/2012 cho chị Hoàng Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chia tài sản chung: Chị H và anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quan điểm giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Lò Văn T
2. Về con chung: Giao con chung Lò Văn Nh, sinh ngày 22/3/2011 và Lò Văn L, sinh ngày 09/7/2012 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Anh Lò Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3.Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hoàng Thị H không yêu cầu anh Lò Văn T phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về chia tài sản chung: Chị Hoàng Thị H và anh Lò Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2021/0001418 ngày 08/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện TU, tỉnh Lai Châu nay chuyển thành án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết lên Tòa án nhân dân cấp trên.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện TU; - Chi Cục THADS huyện TU; - UBND xã TĐ, huyện TU; - Nguyên đơn; - Bị đơn; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |